Công an hiệu bằng nhựa composite mạ vàng nano cao cấp. Mẫu huy hiệu công an đúc chuẩn quốc gia. Chúng tôi là đơn vị chuyên cung cấp phù hiệu và huy hiệu công an cho trụ sở xã, phường, quận huyện và cấp tỉnh.

 

Huy hiệu công an chuẩn quốc gia được mạ vàng cao cấp

Công an hiệu kích thước rộng 85cm, cao 70cm. được mạ vàng nano cao cấp. Sản phẩm được nhiều đơn vị cấp cao lựa chọn.

 

Huy hiệu công an chuẩn quốc gia được mạ vàng cao cấp 2

Các đơn vị quảng cáo, chủ đầu tư, trụ sở công an các cấp có nhu cầu về công an hiệu với mọi kích thước và chất liệu xin liên hệ với chúng tôi.

Link: sản phẩm công an hiệu mạ vàng.

công an hiệu bằng nhựa composite mạ vàng

Mẫu công an hiệu đúc chuẩn quốc gia 70x80cm.

 

Công an hiệu 90x1m05 bằng composite.

Qui cách: Huy hiệu công an được sản xuất theo phương pháp đúc thủ công bằng khuôn thạch cao nên sản phẩm khá nhẵn mịn. Sau đó được phủ nhũ đồng và sơn màu theo mẫu huy hiệu công an tiêu chuẩn.

 

Công an hiệu 90x1m05 bằng composite

 

 

 

Công an hiệu 90x1m05 bằng composite

 

Video quay trực tiếp sản phẩm công an hiệu được đúc bằng nhựa composite mạ vàng nano cao cấp.

Chuyện kể rằng Tô Đông Pha vốn có mối giao hảo với Thiền sư Phật Ấn, một thiền sư nổi tiếng đạo hạnh thời Tống. Giữa thi sĩ họ Tô và Thiền sư Phật Ấn đã để lại nhiều giai thoại thú vị, dưới đây là hai trong số đó.

Chuyện thứ nhất: “Phóng thí”

Một hôm, họ Tô sáng tác được một bài thơ lấy làm đắc ý lắm, bèn cho người mang tặng Thiền sư Phật Ấn đang tu ở chùa Kim Sơn. Nguyên văn bài thơ như sau:

“Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên”.

Tạm dịch là:

“Đảnh lễ bậc Giác Ngộ
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng”.

Thiền sư Phật Ấn xem xong bài thơ, chẳng nói gì, chỉ cầm bút phê vào đó hai chữ “phóng thí” (trung tiện) và cho người đem về trình lại Tô Đông Pha.

Đúng như Phật Ấn dự đoán, Tô Đông Pha xem xong lời phê, đùng đùng nổi giận, không nhịn được nên lập tức vượt sông để sang hỏi Phật Ấn cho ra lẽ.

Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách: “Bài thơ của tôi sai sót chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ ‘trung tiện’ kia?”.

Thiền sư Phật Ấn cười khà khà: “Ông nói ‘tám gió thổi không động’ mà chỉ một cái ‘trung tiện’ đã phải bay sang sông rồi”.

Tô Đông Pha chợt ngẩn ra, hiểu thâm ý của Thiền sư Phật Ẩn nói rằng tâm mình chưa bất động.

Bát phong là tám ngọn gió đời, theo Phật Giáo, chúng bao gồm:

1. Lợi (lợi lộc)
2. Suy (hao tổn)
3. Hủy (chê bai chỉ trích)
4. Dự (gián tiếp khen ngợi người)

5. Xưng (trực tiếp ca tụng người)
6. Cơ (dựng việc giả để nói xấu người)
7. Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh, thân tâm bị bức bách, khổ não)
8. Lạc (gặp được duyên tốt, thuận cảnh, thân tâm vui vẻ, hân hoan)

Tô Đông Pha nhận được bài học sâu sắc về sự nhẫn nại qua lần gặp với Thiền Sư. (Ảnh: DKN)

Chuyện thứ hai: Chuyện… đống phân bò

Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi và đàm luận với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người ngồi kiết già đối nhau luận Thiền.

Đông Pha hỏi Phật Ấn: “Ngài thấy tôi thế nào?”.

Phật Ấn đáp: “Rất trang nghiêm, giống một ông Phật”.

Tô Đông Pha nghe nói, phấn khởi lắm. Phật Ấn hỏi lại: “Ông thấy ta ra sao?”.

Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay: “Giống một đống phân bò!”.

Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội là cô em gái: “Này muội muội, hôm nay anh đã thắng được hòa thượng Phật Ấn được một keo”. Nói rồi, ông thuật lại chuyện đối đáp vừa rồi.

Tô tiểu muội phận nữ nhi nhưng cũng là một bậc tài hoa xuất chúng, nghe vậy bèn cười nói: “Trời, anh thua đậm rồi!”.

Đông Pha tức khí mắng: “Ta làm sao mà thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói lại lời nào?”.

Tô tiểu muội hỏi: “Vậy em hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý?”.

Đông Pha nói: “Đương nhiên là Phật quý rồi!”.

Tô tiểu muội nói: “Phật Ấn thấy Phật, còn anh thấy phân bò, thế có phải là anh thua không? Ấn lão hoàn toàn thắng còn gì nữa”.

Đông Pha tiu nghỉu, biết mình đã thua một keo nặng.

Tâm người càng rộng rãi, mắt nhìn chỉ thấy điều tốt đẹp, còn ngươc lại thì chính là đã thua người khác rồi. (Ảnh: Pinterest)

***

Tô Đông Pha là ai? Tên tục của ông là Tô Thức, hiệu Đông Pha. Ông là trí thức nổi tiếng sinh ra trong một gia đình khoa bảng thập phần tinh anh, thực đã chiếm hết cái giỏi của thiên hạ. Cả cha và em trai ông cũng đều là những kẻ văn chương nức tiếng thời Tống. Bản thân Tô Thức đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi. Tô Đông Pha cùng cha và em ở trong số tám đại văn hào lớn nhất của Trung Quốc suốt bảy thế kỷ, từ thế kỷ thứ VII đến XIII.

Ông có tài đặt bút là thành văn, không cần lập dàn ý, hành văn cứ như nước chảy mây trôi không một chút trở ngại. Một trí thức, nhà thơ lớn đời Tống là quan chủ bạ Âu Dương Tu, hôm nào nhận được một bài văn của ông thì cả ngày sung sướng. Còn Hoàng đế Tống Thần Tông đến bữa ăn nào mà cứ cắm mắt vào bài vở, quên cả động đũa thì y như rằng là đang đọc văn của Tô Đông Pha.

Tô Đông Pha sinh ra trong một gia đình trí tuệ nổi tiếng như thế, bản thân ông ngoài tài viết văn thì trình độ thư pháp cũng vào loại thượng thặng, ông cũng là một họa sĩ nổi tiếng. Có thể nói về tài hoa bác học, thông minh hiểu rộng, đời Tống chẳng ai hơn được Tô Đông Pha.

Nhưng thói thường con người tài hoa trác tuyệt thì hay mắc thói cao ngạo, mục hạ vô nhân. Đó là điều mà thi hào dân tộc Nguyễn Du đã viết: “Có tài mà cậy chi tài”. Con người tài trí liếc mắt qua là có thể hiểu được đạo lý rồi.

Có gì đâu, “bát phong xuy” có nghĩa là: Thấy Lợi không sinh lòng ham muốn, được cũng chẳng mừng rỡ, khi mất (Suy) cũng chẳng buồn bã âu lo, tiếc nuối. Khi bị chê bai chỉ trích (Hủy) cũng chẳng cảm thấy khó chịu, nhưng khi được gián tiếp khen ngợi (Dự) hay được trực tiếp ca tụng (Xưng) cũng chẳng vì thế mà vui thích hay lên mặt kiêu căng. Ngược lại có bị người đời dựng chuyện, vu khống (Cơ) cũng không vì thế mà mất bình tĩnh. Gặp khổ cũng chẳng để vào lòng. Khi sung sướng (Lạc) cũng không hoan hỷ.

Tựu trung lại, mọi kích động bên ngoài đều chẳng động được đến tâm. Những điều này đối với Tô Đông Pha thì chẳng có gì khó hiểu cả. Lại cộng với khiếu văn chương triệu người có một thì làm ra một bài thơ 4 câu như ở câu chuyện đầu tiên có gì là khó?

Nhưng từ ngộ ra được chân lý cho đến khi làm được là một quá trình lao khổ, những can nhiễu đến nhân tâm cũng khiến người ta khổ ải không kém gì việc cắt vào da vào thịt. Người ta chưa buông bỏ được bao nhiêu dục vọng và định kiến, chấp trước thì làm sao có thể trụ tâm vững như núi đá trước bao nhiêu những khiêu khích lúc khổ lúc lạc kia. Và bậc chân tu như Thiền sư Phật Ấn hiểu rất rõ điều đó.

Tu là phải thực hành, mới biết thôi đâu có đủ. Cái đó thì Đông Pha đang thiếu. Phật Ấn cũng quá hiểu ông bạn mình nên buông một lời chọc ghẹo xem anh bạn họ Tô đối diện với chữ “Hủy” thế nào. Đúng như dự đoán, chữ “phóng thí” đã động được đến tâm cao ngạo của họ Tô. Một tình huống mà bậc chân tu chỉ cười xòa một cái là xong.

Cũng như Phật Thích Ca thuở sinh tiền, có lần bị một kẻ đến chửi mắng xối xả mà Ngài vẫn cứ bình tĩnh như không. Thế mà, ai biết khi còn là người thường, thì Ngài đã là người xuất sắc nhất trong những người xuất sắc, đừng nói giờ đây Ngài đã vượt quá xa cảnh giới người thường. Thế nhưng bậc Đại Giác Giả ấy cứ điềm nhiên nghe kẻ kia mạ lỵ đến rát cổ bỏng họng. Đến lúc chửi hết cả ý rồi, kẻ ấy thắc mắc sao Ngài có thể không phản ứng gì, thì Đức Phật lại mỉm cười bình thản, chậm rãi buông một lời nhẹ như tơ: “Ông chửi ta, ta không nhận thì thôi”.

Phật Thích Ca thuở sinh tiền, có lần bị một kẻ đến chửi mắng xối xả mà Ngài vẫn cứ bình tĩnh như không. (Ảnh: pgvn.vn)

Lại như khi Phật Ấn bị Đông Pha gọi mình là đống phân bò vậy. Nếu mình đúng là đống phân bò, thì tự sửa mình. Nếu không đúng, thì thôi. Mình là gì đâu có phụ thuộc vào việc người khác tùy tiện định nghĩa. Cho nên, cũng lại một chữ “Hủy” đó thôi, mà Phật Ấn đã phản ứng hoàn toàn khác.

Vậy là trong khi thường nhân Tô Đông Pha hớn hở tưởng mình đã tranh tiên thì hóa ra ông lại thua thêm một keo nữa về sự độ lượng. Bây giờ thì không còn là lời bông đùa chọc ghẹo “phóng thí” nữa, Phật Ấn thấy trong Đông Pha có nhiều Phật tính, còn Đông Pha ngược lại chỉ thấy ở Phật Ấn một đống phân bò. Trong tâm một bậc chân tu luôn thấy phần Phật tính của chúng sinh, nào có phải vì họ không thấy khía cạnh “đống phân bò”. Còn trong tâm một thường nhân cay cú thì thấy bậc chân tu cũng như đống phân bò mà thôi.

Hai keo đối đáp Đông Pha đều thua trắng.

Nhưng điều quan trọng hơn cả là Tô Đông Pha nhận thấy là mình đã thua, rõ ràng là khó hơn rất nhiều một kẻ tài năng tầm thường nhận thua. Nhưng không có điểm hóa của Phật Ấn, làm sao sau này họ Tô có thể ung dung nổi trước cảnh “lên voi xuống chó” của hoạn lộ để tinh hoa phát tiết ra những “Thủy điệu ca đầu”, “Tiền Xích Bích phú”, “Hậu Xích Bích phú”…

Than ôi, khen bậc chân tu Phật Ấn nhưng cũng phải thấy làm được như Đông Pha liệu có mấy ai?

Kẻ viết bài này dẫu hết sức tầm thường cũng không chắc mình có thể hoàn toàn bình tâm nếu nhận được một bình luận “phóng thí”. Mong là độc giả có thể làm được tốt hơn.

Tỉnh Thức

(DKN.tv)

Ngày đưa tang, bà con lối xóm đều tiếc thương cho bố tôi là một người hiền lành lại thiện lương, hay giúp đỡ người khác, một người tốt như thế sao có thể chết sớm như vậy. Tôi lúc ấy chỉ biết khóc cùng mẹ. Sau này lớn lên đi học Phật pháp, tôi mới minh bạch lý do vì sao…

Lúc còn nhỏ, tôi là một người có được hạnh phúc mỹ mãn: Bố làm nghề kinh doanh, thành thật, uy tín, lại thường xuyên nhiệt tình giúp đỡ người khác. Mẹ làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, là người chăm chỉ, tiết kiệm. Hoàn cảnh gia đình an khang khá giả, mọi người trong nhà hòa thuận vui vẻ.

Mỗi khi ráng chiều nhuộm đỏ chân trời, hai bố con tôi lại đến bờ cỏ lau rậm rạp bên khe suối để câu cá. Đây là niềm say mê của bố, bởi vì bố rất chăm chỉ làm việc, bình thường rất ít có ngày nghỉ, cho nên bố thường tận dụng những buổi chiều tối để đến sông suối câu cá, mà tôi đương nhiên trở thành người bạn đồng hành cùng bố.

Bố tôi là một người câu cá có nhiều kinh nghiệm, bất kể là về kỹ thuật câu hay cách thăm dò nơi nào cá nhiều đều rất thành thạo. Chỉ cần một ngọn đèn nhỏ chiếu thẳng đến cái phao nổi trên mặt nước, chỉ cần thấy phao nhấp nhô lên xuống, lập tức nắm cần câu kéo mạnh lên, rất ít khi mà không có cá. Nếu gặp con cá to thì nên kéo lúc mạnh lúc nhẹ, theo phương hướng con cá vùng vẫy chạy đi mà buông dây theo nó, cho nó giãy giụa một phen mới kéo lên khỏi mặt nước, rồi lại dùng vợt lưới vớt lên.

Câu cá đã trở thành đam mê của Bố, cứ cá căn câu là vật lộn một hồi, con cá giãy giụa tuyệt vọng rồi mới kéo lên mặt nước. (Ảnh: ThePinsta)

Mỗi khi gỡ cá ra khỏi móc câu, có con miệng bị xé rách, có con mắt bị thủng, mà có con miệng đang mở ra khép lại như đang nói lời oán hận, hoặc như đang la hét chửi bới. Khi dùng lưỡi câu xoắn để câu lươn lại càng đáng thương hơn, vì con lươn ăn cái gì cũng đều nuốt chửng, cho nên nó thường nuốt chửng luôn cả mồi câu cùng lưỡi câu vào bụng. Mỗi khi kéo câu, con lươn đau đớn quằn quại thân mình, oằn cong cả người lại, nhìn nó thống khổ vô cùng. Đến bây giờ nhớ lại, câu cá thực sự là một việc làm rất tàn ác, cũng thực sự là một việc làm ngu ngốc!

Sau khi tôi tốt nghiệp không bao lâu, có một ngày từ bên ngoài trở về nhà, vừa mới bước chân vào cửa chính, tôi thấy mẹ cùng các anh chị em trong nhà ôm nhau khóc lóc thảm thiết. Hỏi ra mới biết rằng bố tôi vừa phát hiện bị ung thư dạ dày. Nghe tin này, trong tâm tôi chợt nổi lên từng trận đau đớn, bi thương. Cả nhà như bị bao phủ trong một tầng không khí ảm đạm. Là một gia đình hạnh phúc mỹ mãn, quây quần vui vẻ, trong phút chốc tất cả đã sụp đổ không còn.

Khi đưa bố vào bệnh viện chữa trị, mẹ tôi lệ rơi ướt mặt, khóc xin với bác sĩ, xin bác sĩ hãy hết sức cứu chữa cho bố. Bố được đưa vào phòng phẫu thuật, bác sĩ mổ bụng của bố ra kiểm tra, rồi khâu lại, sau khi ra khỏi phòng bác sĩ lắc đầu nói với mẹ rằng: “Cứu không được nữa rồi”.

Mỗi khi gỡ cá ra khỏi móc câu, có con miệng bị xé rách, có con mắt bị thủng, nếu là lươn thì càng đáng thương hơn vì lúc kéo lên rách cả bụng quằn quại đau đớn. (Ảnh: ThePinsta)

Bố được đưa về nhà an dưỡng. Mọi người đều tìm cách giấu giếm và an ủi, nhưng mà bố cũng biết được tình trạng bản thân mình là không còn hy vọng. Bởi vì ngày ngày ông phải chịu đựng những đợt đau đớn thống khổ không ngừng, bụng cũng dần dần chướng to. Mỗi khi nhìn thấy bố rên rỉ, gào khóc, oằn mình quằn quại trong đau đớn, tôi chợt liên tưởng đến hình ảnh những con lươn bị mắc câu, cũng giãy giụa, oằn mình đau đớn như vậy. Đồng thời nhớ lại hình ảnh mỗi khi đi câu xong, mang cá về nhà bố cũng sẽ mổ bụng làm cá, như vậy có khác nào hình ảnh khi bố bị bác sĩ mổ bụng kiểm tra chứ. Sau mấy tháng chịu thống khổ của bệnh tật tra tấn, bố tôi cuối cùng cũng vĩnh biệt cuộc đời.

Ngày đưa tang, người trong khắp khu phố đều đến đưa tiễn, ai ai cũng bàn tán tiếc thương cho bố tôi là một người hiền lành lại thiện lương, hay giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn, một người tốt như thế sao có thể chết sớm như vậy. Mẹ tôi càng nghe càng đau đớn ôm quan tài khóc gào: “Nghe nói ông có tướng mệnh “nhân trung” sẽ sống lâu trăm tuổi, sao bây giờ lại nỡ đi sớm như vậy”. Còn tôi lúc đó chỉ có thể đi theo mẹ cùng khóc. Sự đời quả nhiên là vô thường.

Đời người một kiếp nhân sinh, phúc đức tự bản thân đo lường, lấy trò sát sinh tiêu kiển, quả báo ắt nhập thân lúc nào không hay. (Ảnh: 2sao)

Mãi cho đến khi tôi lớn lên đi học Phật pháp, tôi mới hiểu ra rằng: dù bố tôi suốt đời làm việc thiện, nhưng lại không hiểu Phật lý, không biết đạo lý nhân quả, ông đam mê câu cá, coi đó như một loại giải trí, tàn sát chúng sinh vô số. Ngày thường chỉ cần da thịt chúng ta bị rách cũng đã cảm thấy đau đớn đến khó chịu nổi, nên cũng có thể hiểu được sự đau đớn và thống hận của những sinh mệnh khi bị mổ bụng moi tim.

Tuy rằng bố tôi có tướng mệnh trường thọ, nhưng sát sinh là việc làm có thể bị tổn thọ nhiều nhất, hơn nữa quả báo của việc sát sinh là rất nặng nề, cho nên bố tôi vì sát sinh mà đã đánh mất tướng mệnh trường thọ của mình.

Theo NTDTV.com
Minh Phúc biên dịch

“Nam Mô A Di Đà Phật” là câu niệm Phật hiệu phổ biến nhất, được nhiều người sử dụng nhất, xuất hiện khắp nơi trong cuộc sống, phim ảnh, truyền hình, mạng Internet. Nhưng “Nam Mô A Di Đà Phật” có nghĩa là gì thì có lẽ nhiều người còn chưa biết.

Trong Phật giáo, Nam Mô A Di Đà Phật được gọi là Lục tự Hồng danh (Danh lớn 6 chữ). Sáu chữ này lưu truyền rộng rãi, có sức ảnh hưởng sâu rộng. Ý nghĩa câu Nam Mô A Di Đà Phật như sau:

  • Nam Mô: quy mệnh, tiếp nhận
  • A: vô lượng quang, tức là sức khỏe vô hạn
  • Di: vô lượng giác, tức là trí huệ vô hạn
  • Đà: vô lượng thọ, tức là trường thọ vô lượng
  • Phật: tín tức vô lượng quang, vô lượng giác, vô lượng thọ

Cả 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật có nghĩa là: Con nguyện tiếp nhận sức khỏe vô lượng, trí huệ vô lượng, trường thọ vô lượng.

Kỳ thực Nam Mô A Di Đà Phật còn biểu thị sự tôn kính đối với Phật, Bồ Tát, như trong câu “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”.

Kỳ thực Nam Mô A Di Đà Phật còn biểu thị sự tôn kính đối với Phật, Bồ Tát. (Ảnh: youtube.com)

Trong “Quán Kinh tứ thiếp sớ” có viết: “Nam Mô nghĩa là quy mệnh, cũng có nghĩa phát nguyện hồi hướng. A Di Đà Phật tức là hạnh của Phật A Di Đà, sức khỏe vô lượng, trí huệ vô lượng, trường thọ vô lượng, với ý nghĩa này, sẽ được vãng sinh”.

Trong “Quán Vô Lượng Thọ Kinh” có viết: “Nam Mô nghĩa là tôn kính, quy kính, quy mệnh. Hai chữ này rất thường gặp, thường đứng trước danh hiệu các Phật, Bồ Tát, như Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát… biểu thị tôn kính và quy y chư Phật, Bồ Tát, có thể được các Ngài phù hộ”.

A Di Đà Phật là một vị Phật (tiếng Phạn là Amitābha), Ngài còn có danh hiệu là Vô Lượng Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Lượng Thọ Phật, là một trong các vị Phật quan trọng nhất trong Phật giáo. Phật A Di Đà là giáo chủ của Thế giới Tây phương Cực Lạc, là thế giới mà Ngài kiến lập. Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của Thế giới Ta Bà, tức là thế giới có chúng ta đang sinh sống.

Trong vô lượng kiếp trước, đức Phật A Di Ðà, khi đó là một tỳ kheo có Pháp danh là Pháp Tạng, đã phát 48 đại nguyện. Trong đó có nguyện nói: “Nếu có chúng sinh nào niệm danh hiệu ta, nếu không sinh vào cõi Cực Lạc, ta thề không thành chánh giác”.

Nhưng đâu phải chỉ có niệm Phật hiệu Nam Mô A Di Đà Phật liền được vãng sinh cõi Cực Lạc. Nếu chỉ niệm câu này liền được đến thế giới Cực Lạc, thì những kẻ đại ác, không việc ác nào không làm, hắn chỉ niệm một câu là hết tội sao. Hay có những kẻ giả nhân giả nghĩa, giả tu, miệng nam mô bụng bồ dao găm, vẫn chăm đi lễ chùa niệm Phật mà rắp tâm hại người, tranh đoạt quyền thế, danh lợi, tiền tài, cũng sẽ được vãng sinh cõi Cực Lạc chăng? Làm sao có chuyện đó! Luật nhân quả là bất biến, đến Phật, Bồ Tát, các Tôn giả thần thông quảng đại cũng không thể tác động được.

Vậy câu nguyện của tỳ kheo Pháp Tạng, chính là của Phật A Di Đà: “Nếu có chúng sinh nào niệm danh hiệu ta, nếu không sinh vào cõi Cực Lạc, ta thề không thành chánh giác” nghĩa là gì?

Câu nguyện của tỳ kheo Pháp Tạng: “Nếu có chúng sinh nào niệm danh hiệu ta, nếu không sinh vào cõi Cực Lạc, ta thề không thành chánh giác” nghĩa là gì? (Ảnh: fodizi.net)

Khi niệm Phật hiệu, cần thành tâm niệm, chuyên tâm niệm, không mong cầu sẽ thành Phật hay không thành Phật, cũng không mong cầu sẽ được vãng sinh hay không vãng sinh. Khi niệm Phật hiệu đã chuyên nhất, nhất tâm bất loạn rồi, một niệm thay vạn niệm, trong đầu không còn ý nghĩ gì khác, thì câu niệm Phật hiệu mới chấn động đến thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà, thì mới được Ngài tiếp dẫn vãng sinh vào cõi Cực Lạc. Mà để đạt được niệm Phật hiệu nhất tâm bất loạn là công phu tu trì lâu dài, luôn luôn giữ giới, tu tâm, từ bỏ mọi ý nghĩ xấu dù là nhỏ nhất. Nhiều người phải trải qua nhiều kiếp, nhiều đời tu hành mới đạt được. Tuy nhiên, thường xuyên niệm Phật hiệu cũng là gieo cái nhân kính Phật, Phật sẽ gia trì gặp cơ duyên tu luyện cao thâm, có khả năng đắc Đạo trong đời này hoặc kiếp sau.

Nhất Tâm

(DKN.tv)

Truyền thuyết có kể lại rằng: Trong số 10 vị đại đệ tử thần thông siêu việt của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì ngài Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất là hai nhân vật xuất sắc nhất…

Nói đến thần thông của Mục Kiền Liên và trí huệ của Xá Lợi Phất thì ai ai cũng đều phải công nhận rằng không có vị đệ tử nào khác có thể so sánh với hai ngài được. Chính đức Phật cũng thường hay khen ngợi những thành tựu thù thắng ấy của hai vị đại đệ tử này.

Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất cũng là bạn đồng đạo gắn bó thân thiết với nhau từ lâu, thường cùng nhau đi lại trong những cảnh giới cõi trời, cõi người và cả cõi địa ngục hay súc sinh… trong Tam Giới, vận dụng thần thông và trí huệ của mình để giải cứu những người đang gặp khổ nạn và giáo hóa cho những chúng sinh mê lạc.

Có một hôm, hai vị đi tới địa ngục Vô Gián, nhiệt độ trong ngục rất cao, giống như một lò than hồng, ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt, hơi nóng từ vạc dầu sôi tỏa ra không ngừng, bao phủ cả địa ngục. Những người chịu tội hình thì ngày đêm kêu la, rên xiết, tiếng khóc than nổi lên không dứt. Cảnh tượng vô cùng thảm khốc và ghê rợn. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thấy động lòng từ bi bèn hóa phép tưới nước mưa pháp thanh tịnh cho họ, nhưng hình phạt trả nợ ác nghiệp thống khổ của họ cũng chỉ tạm dừng được trong chốc lát.

Lúc ấy hai vị thấy có một tội nhân hình người mặt quỷ rất kinh sợ, thân hình to lớn kệch cỡm, còn cái lưỡi thì vừa rộng vừa dài, bên trong miệng lưỡi lại có 500 lưỡi cày bằng sắt nung đỏ cày ở đó như cày trên một thửa ruộng hoang khiến cho miệng lưỡi nát te tua, máu tươi từ lưỡi nhỏ xuống từng dòng, cảnh tượng khiếp sợ cùng cực.

Cảnh tượng ở địa ngục Vô Gián. (Ảnh: strava.com)

Người tội nhân ấy vừa thoáng trông thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thì mừng rỡ như bắt được báu vật, vội vàng chạy đến khẩn cầu:

– Bạch hai vị tôn giả, con tên là Bộ Lợi Nã, lúc còn sống con là bậc thuyết giả chuyên đi truyền bá những tích thuyết vô thần và phỉ báng Phật Pháp nên hôm nay phải chịu khổ báo này. Nếu như hai vị có đi qua Nam Thiệm Bộ Châu, xin hãy mở lòng từ bi mà nhắn với các môn đồ của con, bảo chúng rằng: đừng có trong vô minh mà chối bỏ, phủ nhận các đấng tối cao, cũng đừng dùng lời ma mị mà đầu độc người khác báng bổ thần linh, càng không được cậy theo bè đảng thế lực mà đàn áp những người tu luyện điều đó sẽ làm cho tội báo của con ở dưới này ngày càng thêm nặng nề. Đồng thời cúi xin hai ngài nói với họ rằng đừng phỉ báng Phật Pháp, đừng lấy lời tà mà lừa gạt chúng sinh nữa, bằng không sẽ giẫm theo bước chân của con mà đọa lạc xuống nơi địa ngục tột cùng thống khổ này!

Hai vị tôn giả rủ lòng xót thương chấp thuận lời khẩn cầu của quỷ nhân Bộ Lợi Nã, họ bay ra khỏi địa ngục Vô Gián và trở về thành Vương Xá, trên đường về thì gặp một nhóm người côn đồ ngoại đạo, trên tay người nào cũng cầm hung khí giống như cây gậy gỗ. Những kẻ hung hiểm này chuyên chặn đường ức hiếp, nhục mạ những người tu hành đi ngang qua đấy, ngăn cản không cho họ hồng Pháp và tu luyện và còn thẳng tay mà hành hung, đánh đập họ nữa.

Xá Lợi Phất đi trước, thấy họ chặn đường vung gậy lên toan đánh, bèn dùng lời hòa giải để ngăn họ, thì những kẻ ngoại đạo hung hãn ấy tuy ngừng tay hành ác nhưng vẫn dùng tia mắt hung dữ nhìn theo tôn giả đồng thời không ngớt buông ra những lời lẽ thô thiển và thóa mạ. Tiếp theo khi thấy Mục Kiền Liên đi tới thì đám người tà ác lại xông ra vung gậy đánh đập

– Đợi một chút, Mục Kiền Liên đưa tay lên chặn lại, chúng ta vừa từ địa ngục Vô Gián lên, gặp sư phụ của các người là Bộ Lợi Nã ở trong ấy đang chịu cực hình vô cùng nặng nề thống khổ, lưỡi của ông ấy bị cày rách bằng 500 cây cày sắt nung đỏ, máu tươi dầm dề, khổ sở không bút nào tả xiết. Ông ấy nhờ ta chuyển lời đến cho các người rằng: hãy ngừng phỉ báng Phật Pháp, không được tuyên truyền mị dân, và mong đừng có ai đi theo con đường tội lỗi của ông ấy để tránh gặp phải cảnh đọa đày địa ngục, đồng thời cũng là đỡ cho ông ta được bớt chịu tội khổ phần nào.

Tôn giả Mục Kiền Liên vì lòng tốt mà nói lại cho họ nghe lời của thầy họ, nghĩ rằng điều ấy có thể làm cho những kẻ tà ác hối lỗi và giải tỏa những oan khiên giữa đôi bên lúc ấy. Nào ngờ lời chưa dứt, bọn côn đồ ngoại đạo đã hung bạo ùa tới như một bầy hổ dữ sói hoang mà bao quanh, mà tấn công ngài:

– Đánh hắn! Hắn dám chê bai sư phụ của chúng ta! Hắn uy hiếp đến quyền lợi của chúng ta! Đánh hắn! Đánh tên sa-môn này đi!

Vậy là nào là cây, nào là gậy tới tấp như mưa giáng lên thân của Mục Kiền Liên, ngài bị đánh đến nỗi thương tích đầy người.

Tôn giả Mục Kiền Liên có thần thông những vẫn hứng chịu trận đòn như mưa lên người. (Ảnh: tnews.co.th)

Tôn giả Mục Kiền Liên vốn là bậc đệ nhất thần thông, thần lực không thể nghĩ bàn, đã từng dùng ngón chân ấn lên cung điện của vua Đế Thích làm cung điện này dao động và sụp đổ, vậy thì tại sao ngài lại không đem sức thần thông ấy ra đối phó khi bị những kẻ côn đồ ngoại đạo bao vây đánh đập? Lúc ấy chiến thắng một vài ngàn tà ác không phải là dễ dàng như trở bàn tay sao?

Nhưng Mục Kiền Liên tôn giả không hề dùng thần thông chống đỡ, ngài mang theo tấm thân đầy thương tích vào thành khất thực, rồi trở về tịnh xá dùng cơm, xếp đặt lại y bát gọn gàng xong đến gặp đức Phật, ngài cúi đầu đảnh lễ trước đấng Thế Tôn và thưa:

– Con vừa mới trả xong nợ nghiệp trần ai, không lâu nữa Xá Lợi Phất sẽ nhập niết bàn, chúng con là hai người bạn đồng đạo thân nhất trong thế giới loài người, con nghĩ chẳng bao lâu nữa mình cũng sẽ viên mãn và rời đi. Xin đấng Thế Tôn từ bi tha thứ cho đệ tử!

Tôn giả Mục Kiền Liên với tâm cung kính chân thành nhất đi xung quanh đức Phật ba vòng theo chiều tay phải, chắp bái lạy, sau đó ngài trở về quê từ biệt gia đình bạn hữu và hồng Pháp cho những người có duyên rồi ít lâu sau ngài bay lên núi Kỳ Xà Lê và nhập niết bàn.

***
Giữa tăng đoàn, đức Phật kể lại cho chúng đệ tử nghe câu chuyện “Đánh một thả một”, cũng là chuyện kiếp xưa của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên:

– Ngày xưa có hai vị tu đạo một hôm đi qua ngôi làng nọ, thì gặp một đám trẻ mới lớn ngang tàng và ngỗ ngược có tiếng ở trong làng, thấy hai vị từ xa đi tới, tâm liền loạn động, chúng bàn tính với nhau nên làm khó dễ hai vị ấy như thế nào.

Bọn trẻ du côn kia chắn ngang giữa đường hỏi vị tu đạo đầu tiên mới đi tới rằng:

– Chừng nào thì khí hậu mới trở lạnh?

Vị tu đạo đi trước cười đáp:

– Không kể xuân hạ thu đông, hễ ngày nào có gió, có mưa thì cảm thấy lạnh.

Bọn trẻ bèn nhường đường cho vị này đi qua rồi lại chặn đường vị tu đạo thứ hai đi phía sau và hỏi:

– Bao giờ thì trời trở lạnh?

– Mùa đông thời tiết lạnh lẽo. Mặt trời mặt trăng cùng tinh tú xoay chuyển ấy là điều tự nhiên. Xuân hạ thu đông bốn mùa, đến mùa đông thì lạnh. Đó là định luật tự nhiên của trời đất, ai ai cũng biết điều đó, chỉ có kẻ ngu dốt mới không biết.

Bọn trẻ nghe thấy thế, không vừa ý, chúng nhặt đất đá và thi nhau ném vào người vị tu đạo thứ hai. Vị tu đạo thứ nhất chính là Xá Lợi Phất và vị thứ hai là Mục Kiền Liên. Chuyện xảy ra giống như ngày hôm nay vậy.

Giữa tăng đoàn, đức Phật kể lại cho chúng đệ tử nghe câu chuyện “Đánh một thả một”, cũng là chuyện kiếp xưa của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. (Ảnh: youtube.com)

Nói tới đây, đức Phật biết vì có rất nhiều người thấy Mục Kiền Liên gặp nạn mà sinh lòng nghi ngờ đối với thần thông của người tu luyện, vì thế Ngài nói tiếp:

– Các ông chớ nên nghi ngờ, diệu dụng của thần thông không phải là một điều hư dối, nhờ thần thông tôn giả có thể bay lên trên trời, hoặc đi xuống lòng đất, biến hóa khôn lường, tự do tự tại không có chướng ngại. Mục Kiền Liên có sức mạnh bất khả tư nghị như thế. Tôn giả cũng không hề mất đi thần thông của mình, chỉ vì khi nào nghiệp lực hiện tiền thì ông ta biết rằng đã có nợ thì phải trả cho hết. Đến đấng Như Lai còn không muốn đi ngược lại luật nhân quả. Người nào cũng thế, khi nào nghiệp báo tới thời trổ quả thì chỉ có cúi đầu mà nhận chịu thôi. Thuận theo nhân quả mới phù hợp với lý của vũ trụ. Vả lại pháp môn chúng ta còn có giảng về “Thiện”. Vì thế mọi người nên vui vẻ mà chấp nhận nghiệp báo, đừng nên trốn tránh, cũng không nên oán hận kẻ đã đem nó tới. Cũng vì thế, mọi người nên biết rõ rằng nghiệp báo rất đáng sợ mà tinh tấn tu hành, cẩn thận mỗi hành vi của chính mình, dựng một bức tường xung quanh thân khẩu ý mà phòng ngừa. Mục Kiền Liên hiểu rõ giáo pháp của ta một cách chân chính, tôn giả rất giỏi thần thông nhưng không dùng thần thông để che đậy cho duyên nợ của mình, quả là đáng khen ngợi, đây cũng là một bài học để cho chúng đệ tử các con chiêm nghiệm.

Lời bàn:

Cổ nhân có câu: “Thà khuấy động nước ngàn sông, chớ nên làm động lòng người tu Phật”, xưa nay tối kỵ nhất là làm nên những chuyện thương thiên hại lý, phỉ báng Phật pháp, bức hại những người tu luyện.

Bộ Lợi Nã, lúc còn sống là bậc thuyết giả chuyên đi truyền bá những tích thuyết vô thần và phỉ báng Phật Pháp nên mới phải chịu khổ báo kinh khiếp như thế, vậy mà các đệ tử của ông vẫn tiếp tục ở trong vô minh mà hành ác: dùng lời ma mị lừa dối chúng sinh, báng bổ Thần Phật, bức hại người tu luyện… thì tránh sao khỏi cảnh tự thân hủy diệt và chịu tội về sau.

Tôn giả Mục Kiền Liên được coi là một trong những đệ tử thần thông đệ nhất của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng lại không dùng thần thông để hóa giải ân oán và đối phó với kẻ ác. Bởi với một bậc tu hành đắc đạo như Mục Kiền Liên thì ông đã nhìn thấu các mối quan hệ nhân duyên, quy luật nhân quả nghiệp đức, thiện ác hữu báo, lại càng không muốn vận dụng thần thông để đối phó với những kẻ tầm thường. Đó cũng chính là biểu hiện của đức “Thiện”, “Nhẫn”, trí huệ và từ bi của đấng giác ngộ vậy.

Một bậc tu hành đắc đạo như Mục Kiền Liên thì ông đã nhìn thấu các mối quan hệ nhân duyên, lại càng không muốn vận dụng thần thông để đối phó với những kẻ tầm thường. (Ảnh: youtube.com)

Chuyện xuất thần thông đối với những người tu luyện xưa nay đều không phải là không có. Chỉ có điều, các pháp môn tu luyện chính pháp cho dù là thuộc về Phật gia hay Đạo gia thì đều có giảng về: “Tâm tính”. Tâm tính phải cao, đức phải lớn thì mới có thể tu xuất thần thông. Bởi vậy đúng như lời mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng trong câu chuyện: “Chớ nên nghi ngờ, diệu dụng của thần thông không phải là một điều hư dối”. Tuy nhiên tu xuất thần thông cũng không phải là mục đích cuối cùng của người tu luyện.

Thực hành nguyên lý: Chân – Thiện – Nhẫn, đồng hóa với đặc tính của vũ trụ để đạt đến viên mãn, ấy mới là điều căn bản. Người đã tu xuất thần thông hẳn sẽ không dễ gì mang nó ra mà khoe khoang hiển thị. Phật gia có giảng: “Trong nghề nhìn chiêu pháp; ngoài nghề nhìn náo nhiệt”, nếu hữu duyên đắc được Đại Pháp và bước vào tu luyện, chắc chắn người ta sẽ hiểu được đạo lý này.

Đường Tân

Một ngày nọ, dưới gốc cây cổ thụ già trong sân một ngôi nhà ở nước Vệ, khoảng một ngàn hai trăm năm mươi vị tăng sư, hơn vạn vị Bồ Tát cùng vô số chư vị Thiên long quỷ thần, tất cả cung kính ngồi xung quanh đức Phật, chăm chú lắng nghe Người giảng pháp, xung quanh bao trùm một trường không khí tràn đầy vui mừng, thiện lành. Ngay tại lúc ấy, từ ngoài cửa truyền đến thanh âm của một người…

Mười năm tìm gặp đức Phật

Thì ra đó là một ông lão, khoảng 200 tuổi nhưng mi tóc vẫn tốt, vành tai dài xuống tận vai, hàm răng đều tắp và trắng khỏe, hai tay dài quá gối, dung mạo rất uy nghi, trông tựa như một lão ông phú quý. Thế nhưng lại thấy ông lão có vẻ trải qua cuộc sống vô cùng vất vả khốn khó, chẳng những áo quần rách nát không đủ che hết thân thể, tay chân bị lộ ra ngoài, hơn nữa còn có vẻ như đang rất đói khát, dường như từ lâu rồi không được ăn uống đầy đủ, mỗi bước chân đều run rẩy cố hết sức mà cất bước.

Thì ra ông lão này nghe tin Phật Tổ đang ở trong nhân gian giảng Pháp cho con người, trong lòng lấy làm vui mừng, ngày đêm phát nguyện cần phải gặp Phật Tổ để được nghe Ngài giảng Pháp, vì thế đã chống gậy đi tìm Ngài, đi suốt mười năm trời như thế, mãi cho đến hôm nay mới được như nguyện, đi đến nơi này. Khi ông Lão đang muốn đi tiếp vào trong sân thì bị người gác cửa ngăn lại, cảm thấy không cam lòng, bèn khóc gào với mấy người giữ cửa rằng:

– Ta là một ông lão thật bất hạnh, cuộc sống đã nghèo đói, bần hàn, phải chịu đói khát rét buốt, muốn chết không được, mà sống lại càng khổ. Nghe nói Phật Tổ từ bi, nhân từ, đều đối đãi với chúng sinh như nhau, vạn vật đều được hưởng ân huệ từ bi của Ngài, vì vậy trong tâm ta vui mừng khôn xiết bắt đầu đi khắp nơi tìm Ngài, bất kể ngày đêm không lúc nào ngừng mong ước được gặp Ngài. Trải qua mười năm ta mới đi đến được nơi này, đã đi mất nhiều năm như thế, đi qua không biết bao quãng đường xa xôi gian khổ như thế, chính là vì cầu xin Ngài mở lòng từ bi xóa bỏ khổ nạn này cho ta. Nay ngươi ngăn cản không cho ta được gặp Ngài, như thế không những sẽ giết đi mong ước cuối cùng của ta, mà lại càng làm trái với tấm lòng từ bi của Phật Tổ, làm như vậy mà được sao?

Đức Phật giảng Pháp cho chúng tăng. (Ảnh: wenji8.com)

Phật tổ biết được bèn hỏi qua A Nan Tôn Giả rằng:

– Ngươi đã từng thấy qua người nào sống lâu mà lại có tướng mạo uy nghiêm, nhưng vẫn chưa hết tội nghiệp như ông lão này chưa?

A Nan Tôn Giả quỳ xuống, chắp tay trả lời:

– Thưa Thế Tôn, trên đời làm sao mà có thể có người sống lâu, tướng mạo uy nghiêm mà lại chưa dứt tội nghiệp được chứ? Người chưa hết tội nghiệp không có khả năng trường thọ được? Người như thế con chưa từng thấy qua. Người đó hiện tại đang ở nơi nào vậy?

Phật tổ nói: “Người như vậy hiện nay đang bị người giữ cửa ngăn ở bên ngoài, ngươi hãy đi mang người ấy vào đây”.

Căn nguyên của vận mệnh

Ông lão khốn khổ phủ phục trên đất, dùng hai khuỷu tay bò về phía trước, đến khi thấy được Phật Tổ, vừa mừng vừa bi thương, nước mắt giàn giụa, tiến lên thành kính lễ Phật, quỳ trên đất chắp tay nói:

– Cuộc đời con thật bất hạnh, cuộc sống quá ư nghèo túng khốn khó, chịu đói chịu rét, muốn chết không được, lại sống thì không có lối thoát. Con nghe nói Phật Tổ Ngài từ bi nhân từ, đối đãi với hết thảy chúng sinh vạn vật đều có lòng thương xót giống nhau, cho nên con chỉ có một mong muốn đó là được gặp Ngài.

Con đã đi tìm Ngài suốt mười năm nay, cuối cùng đi tới được nơi này, lại bị cản ở bên ngoài không cho vào cửa. Lúc ấy cứ ngỡ là buông bỏ tâm nguyện để rời đi, nhưng thân lại không đủ hơi sức, tiến thoái lưỡng nan, lại sợ lỡ như trút bỏ chút hơi tàn này chết ngay tại cửa, làm ô uế Thánh địa, như vậy con càng thêm chồng chất tội lỗi, trong tâm bi thương vô cùng. Không ngờ được Phật Tổ Ngài từ bi đã sớm thương xót cho tấm thân khốn khổ này, phái người mang con tiến vào đây, ngày hôm nay có thể nhìn thấy Ngài, thành tâm bái lạy như vậy con có chết cũng không ân hận gì. Con chỉ có một mong muốn đó là làm sao để có thể tiêu trừ tội nghiệp, nhanh chóng được giải thoát, không còn chịu khổ, khẩn cầu Ngài từ bi, dùng trí huệ vô thượng của Ngài giải khai giúp cho con.

Phật Tổ từ bi nói: “Vạn sự sinh tử của con người đều là có duyên cớ của nó, nay để ta nói cho ngươi biết vì sao ở kiếp này ngươi lại có quả báo như vậy …

Ở kiếp trước, ngươi là Thái tử của một nước lớn, hiển hách vô cùng, trên có cha mẹ cưng chiều, dưới có thần dân tôn kính. Bản thân ngươi lại có tài nhưng kiêu ngạo. Chính vì điều này mà ngươi không xem ai ra gì, ngông cuồng làm bậy, xúc phạm người khác, thậm chí còn coi đấy là điều để vênh váo đắc ý. Còn chiếm giữ rất nhiều của cải, báu vật làm của riêng, mà không nghĩ rằng những thứ ấy đều là dựa trên mồ hôi nước mắt của người dân; chỉ biết thu thuế của dân làm của riêng cho mình mà chẳng hề cứu tế giúp người, thờ ơ trước cuộc sống bần cùng nghèo khó của dân chúng.

Tội nghiệp gieo ở kiếp trước cùng với phúc báo kiếp này theo nhau như bóng với hình

Một hôm, có một vị thầy tu nghèo tên là Tĩnh Chí từ một nước khác xa xôi tìm đến bái phỏng ngươi, điều vị ấy thỉnh cầu không nhiều, bất quá chỉ là xin Thái tử bố thí cho một tấm áo cà sa mà thôi. Ngươi chẳng những không tiếp đãi đàng hoàng, thái độ cũng không ra gì, không cung cấp áo quần, mà ngay cả miếng rau hớp nước cũng không cho, để cho vị thầy tu kia ngồi không như thế ở phòng khách suốt bảy ngày bảy đêm.

Thầy tu Tĩnh Chí thân thể suy kiệt, chỉ còn lại một hơi thở thoi thóp, như ngọn đèn sắp cạn dầu trước gió có thể tắt bất cứ lúc nào.

Nhìn cảnh đó ngươi lại lấy làm vui vẻ vô cùng, còn tụ tập người khác lại cùng nhau xem, coi đó như một trò giải trí. Khi đó có một vị hạ thần khuyên can ngươi rằng:

– Thái tử, vị thầy tu này rất có đạo hạnh, để chịu lạnh nhưng không bị lạnh, để cho đói nhưng không bị đói, sở dĩ đến gặp Ngài hóa duyên chính là vì để cho Ngài tích thêm phúc. Nếu Ngài không muốn bố thí cung dưỡng, thì cho vị ấy rời đi là được rồi, cần gì phải đối xử như vậy?

Thái tử không những kiêu ngạo, ngông cuồng làm bậy mà còn coi thường người tu luyện. (Ảnh minh họa: youtube.com)

Thái tử nói:

– Hắn là loại người nào, lại còn cho là có đạo hạnh? Ta chỉ là làm khó hắn mà thôi, cũng không phải muốn hại hắn. Thôi thôi, đem thả hắn đi đi, để tránh gây thêm phiền toái cho ta.

Nói rồi cho người đem vị thầy tu kia đuổi ra khỏi biên ải. Không ngờ rằng vị thầy tu Tĩnh Chí vừa đi tới một vùng cách biên giới khoảng mười dặm thì gặp một nhóm giặc đói, bọn chúng muốn đem giết vị thầy tu này để lấy thịt ăn. Tĩnh Chí thấy vậy bèn nói với đám giặc đói kia:

– Ta là một thầy tu bần cùng, gầy yếu chỉ còn da bọc xương, thịt lại tanh hôi không thể ăn được, giết ta chỉ phí công các ngươi mà thôi.

– Giặc đói nói:

– Bọn ta đói đã nhiều ngày rồi, đói đến mức chỉ có thể ăn đất mà thôi. Nhìn ngươi mặc dù ốm yếu nhưng dù sao vẫn là thịt có thể ăn, bọn ta sẽ không thả cho ngươi đi, ngươi hãy nhận mệnh đi!

Vị thầy tu cùng đám giặc đói cứ giằng co với nhau như vậy mãi chưa dứt.

Thái tử nghe tin này lập tức nói:

– Ta đã không bố thí, cung dưỡng áo quần, cơm nước, thì làm sao mà còn để cho bọn giặc đói kia giết hắn đây?

Nói xong liền lập tức chạy đi cứu người. Nhìn thấy Thái tử đến, đám giặc đói đều quỳ xuống dập đầu trước Thái Tử, hơn nữa còn cúi đầu nhận tội. Thầy tu Tĩnh Chí lúc ấy chính là kiếp trước của Di Lặc Bồ Tát, còn Thái tử kiêu ngạo kia chính là ngươi ở kiếp trước.

Vì kiếp trước ngươi keo kiệt tham lam cho nên nghiệp báo đời này của ngươi là bị bần cùng đói khổ; mà ngươi đời này còn được sống lâu như vậy là phúc báo vì ở kiếp trước ngươi đã cứu sống thầy tu Tĩnh Chí khỏi bị đám giặc đói giết thịt. Nghiệp báo hay phúc báo là luôn đi liền với kiếp người như bóng với hình, như âm với thanh, là không thể nào tách rời được.

Phát nguyện tu hành

Ông lão nghe xong thưa với đức Phật rằng:

– Chuyện của quá khứ nay đã qua rồi, mong là mọi chuyện sẽ kết thúc ở đây. Ước nguyện của con bây giờ là dùng tấm thân tàn này xuất gia đi tu, đời đời kiếp kiếp xin theo hầu hạ bên cạnh Phật.

Ông lão phát nguyện tu hành và trở thành một trong những đệ tử của Phật. (Ảnh: mirorahnev.com)

Đức Phật liền đáp ứng lời khẩn cầu của ông lão, rồi nói:

Thiện tai! Thiện tai!

Vừa nói xong, râu tóc của ông lão tức thì rụng rơi xuống hết, mà áo cà sa tự nhiên được khoác lên thân, thân thể cũng trở nên khỏe mạnh, tai thông mắt sáng, trí tuệ được tăng tiến, tự khắc được nhập định. Phật Tổ có kệ tụng rằng:

“Trước kia là Thái tử, không làm điều nghĩa nhân
Cậy mình thân tôn quý nên kiêu ngạo vô lương
Tự gây bao tội báo, xem đó là lẽ thường
Không rõ sinh tử luật, nay mới rước tai ương

Trong khổ gặp thần linh, biết được lý đất trời
Muốn thoát hết tội nghiệp, gửi thân vào Phật môn
Rũ bỏ tâm tham kiệt, nhận được trí huệ thăng
Đời đời thân bên Phật, tuổi thọ vạn kiếp còn”.

Lời kệ vừa dứt, ông lão nay đã là hòa thượng vui mừng cúi lạy Phật Tổ. Lúc này, Phật Tổ nói với A Nan Tôn Giả rằng:

– Nếu có người tụng đọc kinh này, hãy cho họ gặp được ngàn kiếp lành. Nếu có thể lưu truyền được kinh này, thì làm cho người hậu thế tuyên truyền rộng khắp, đều được đắc độ. Nếu như về sau tuyên truyền rộng rãi pháp này thì nhất định phải chính xác, vĩnh viễn không được sai biệt.

Toàn bộ chúng sinh vây quanh Phật Tổ nghe giảng vậy, đều vui mừng đón nhận, tiến đến thành kính cúi lạy Ngài.

Theo Secretchina
Minh Phúc biên dịch

Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, ngài dạy đệ tử đi khất thực mỗi ngày. Theo lời chỉ dẫn, các đệ tử phải đến khất thực từng nhà một không cần biết gia chủ có bố thí hay không. 

Đức Phật có nhiều đệ tử, trong đó có Tu Bồ Đề và Ca Diếp là hai trong số những người nổi trội nhất. Nhưng họ lại thường bất đồng ý kiến về chuyện khất thực. Ca Diếp chỉ muốn xin bố thí từ người nghèo, còn Tu Bồ Đề lại muốn khất thực ở những nhà giàu có.

Một hôm, tôn giả Ca Diếp đến một tòa thành, chợt bắt gặp một bà lão rất nghèo khổ. Bà lão không nhà cửa, không thân thích, ngày lang thang kiếm ăn trên đường phố, đêm trú mình ở góc hẻm tối tăm. Manh áo trên mình bà là một mảnh vải rách. Hôm ấy, bà đổ bệnh, gần như nằm liệt không ngồi dậy nổi, chừng như đang hấp hối.

Chỗ bà nằm có nhiều mảnh ngói vỡ. Một người qua đường thương xót bà lão nên đổ nước vo gạo trên miếng gói vỡ để bà lão uống cầm hơi khi đói khát. Ca Diếp trông thấy bà lão, liền tiến tới khất thực. Bà lão nhìn thấy Ca Diếp thì cố gượng ngồi dậy, thở hổn hển, đoạn hỏi: “Ngài nghèo hơn tôi sao? Tôi rất yếu, không miếng ăn, không mảnh vải che thân, đang nằm chờ chết. Tôi còn gì để bố thí đây?”.

Nghe vậy, Ca Diếp ôn tồn giảng giải cho bà lão: “Hôm nay tôi đến xin thức ăn của bà chính là để giúp bà. Nếu tôi cho bà thức ăn, tiền bạc thì vẫn chỉ là càng khiến bà nghèo hơn, khổ hơn. Nhưng nếu bà cho tôi chút gì lúc này thì chính là bà đã tích được đại đức, kiếp sau có thể tái sinh vào gia đình giàu có hoặc lên thiên thượng hưởng phúc dài lâu”.

Tôn giả và bà lão. (Ảnh minh họa: wikipedia.org)

Bà lão nghe Ca Diếp nói thì xúc động nghẹn lời. Nhưng khổ nỗi bà nhìn quanh chẳng thể tìm được món đồ nào tử tế để bố thí cho Ca Diếp. Bà buồn bã nhìn tôn giả Ca Diếp nói: “Tôi mang ơn lời dạy bảo của ngài nhưng chẳng tìm được chút thức ăn hay quần áo nào để bố thí cả.

Ca Diếp lại nói: “Người nghèo nhất chính là những kẻ giàu có mà chẳng muốn cho đi”.

Nghe lời ấy, bà lão bỗng mặt mày hớn hở, vui sướng, hai tay nâng những miếng ngói vỡ còn chút nước vo gạo ở trong dâng cho Ca Diếp. Ca Diếp kính cẩn tiếp nhận và uống ngay trước mặt bà lão.

Sau đó chẳng bao lâu, bà lão chết và được lên thiên thượng làm tiên nữ. Chẳng ngờ hành động bố thí nước vo gạo cho nhà sư lại giúp bà có được phúc báo lớn như vậy.

Chẳng ngờ hành động bố thí nước vo gạo cho nhà sư lại giúp bà đắc phúc báo được lên Thiên Thượng. (Ảnh minh họa: youtube.com)

***

Phật gia coi chuyện bố thí là hành động tích đức, tích công quả. Người biết bố thí, cho đi thì ắt nhận lại phúc phận gấp nhiều lần. Nhưng cũng có nhiều người cho rằng bố thí chút tiền tài, vật chất là có thể tích phúc phận, chết đi được hưởng phúc trời. Thực ra quan niệm đó đã có phần lệch lạc khá xa khỏi quan niệm ban đầu.

Bố thí không cốt ở số lượng, ở vật phẩm mà cốt ở lòng người. Người bố thí bằng cả tấm lòng chân thiện thì còn đáng quý hơn cả bạc vàng châu báu ngàn vạn lượng. Bố thí một nụ cười, một lời khích lệ, bố thí một ánh mắt, một cái giơ tay giúp đỡ, một tấm lòng thiện lương… đều có ý nghĩa như vậy cả.

Lại nói, ngày nay, người ta đi chùa, mang tâm bố thí, cố gắng cúng dường thật nhiều, thật lớn nhưng mấy ai hiểu được cái nghĩa đích thực của bố thí đây? Bố thí chính là thấy người khổ thì giúp, thấy người hoạn nạn thì dang tay, nào có cầu chi phúc thọ, lợi lộc. Người ngày nay bố thí, cúng dường là mang theo biết bao nhiêu truy cầu danh lợi. Bố thí để mong nhận lại lợi ích, vậy thì bố thí ấy dẫu có nhiều đến mấy cũng chẳng có tác dụng chi.

Tham khảo: chanhkien.org
Văn Nhược

Ai cũng biết, trong số tất cả các đệ tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì Thần thông của ngài Mục Kiền Liên quả thật là không người nào có thể so sánh được. Bất cứ việc gì, dù khó khăn đến đâu, hễ tôn giả Kiền Liên vận dụng đến thần thông thì ngay lập tức đều có thể giải quyết được.

Mặc dù vậy, việc sử dụng thần thông chỉ hữu hiệu đối với cứu độ chúng sinh hay làm phương tiện cho để tuyên dương Phật pháp, chứ không thể sử dụng nó để làm những việc trái ngược với thiên lý và các luật tắc nhân quả. Thần thông không xóa bỏ được nghiệp báo, cũng không thể giúp giải thoát được phiền não, sinh tử; đó là sự thật.

Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần thông cứu người tại quê hương đức Phật

Chuyện kể rằng một ngày kia, quê hương Ca Tỳ La Vệ của đức Phật bị vua Lưu Ly (Virudhaka – Vidudabha) của nước Kiều Tát La dẫn đại quân xâm lược. Nghe được tin ấy, lúc đầu đức Phật cũng nghĩ đến việc phải bảo vệ người dân nơi quê hương trần thế của mình. Ngài bèn ngồi ngay trên đường tiến quân của vua Lưu Ly có ý cản trở việc binh đao này. Đã ba lần như vậy, cứ trông thấy đức Phật thì vua cho lui quân, nhưng cái tâm khát khao chinh phạt cũng như ý chí muốn trả mối cựu thù bang quốc của nhà vua thì không gì có thể hóa giải được.

Đức Phật dùng phép quán chiếu và biết rõ là mối nhân quả nghiệp báo ràng buộc giữa hai bộ tộc từ lâu đã đến lúc phải được kết thúc, nếu không thì không thể nào thanh lý được. Bởi vậy, dù rất yêu mến quê hương, và đã ba lần xả thân cản trở đạo quân xâm lăng, nhưng cuối cùng thì Ngài cũng đành phải phó mặc cho vua Lưu Ly tấn công thành Ca Tỳ La Vệ.

Đức Phật dùng phép quán chiếu và biết rõ là mối nhân quả nghiệp báo ràng buộc giữa hai bộ tộc từ lâu đã đến lúc phải được kết thúc. (Ảnh: Steemit)

Nhưng Mục Kiền Liên thì không chịu như vậy. Khi biết tin thành Ca Tỳ La Vệ đã bị đại quân của vua Lưu Ly bao vây, tôn giả liền bạch với đức Phật:

– Bạch Thế Tôn! Thành Ca Tỳ La Vệ đang bị tấn công, con nghĩ là mình phải ra sức cứu giúp nhân dân trong thành.

Đức Phật nhìn Mục Kiền Liên, giọng từ bi bảo:

– Này Mục Kiền Liên! Bộ tộc Thích Ca đã đến lúc phải chịu quả báo của những tội nghiệp đã gây ra từ bao đời trước. Đó là nghiệp của hết thảy chúng sinh trong thành cộng hưởng mà nên, thầy không thể nào chịu thay cho họ được. Họ đã không biết sám hối tội lỗi, không chịu sửa đổi những sai lầm cũ và ngăn ngừa những nghiệp xấu mới, mà vẫn cứ một mực kiêu ngạo, ngang tàng, tranh đấu. Dĩ nhiên, cũng giống như một ngôi nhà, nếu đã bị mối mọt đục cho mục nát thì ắt sẽ bị sụp đổ!

Nghe lời dạy của đức Phật, Mục Kiền Liên biết đó là sự thật không thể thay đổi, nhưng tôn giả vẫn nghĩ là có thể sử dụng thần thông của mình để cứu được một phần dân chúng trong thành. Vua Lưu Ly dùng hàng trăm ngàn quân để bao vây thành, một giọt nước cũng khó mà chảy lọt qua, huống nữa là người; cho nên Mục Kiền Liên phải dùng thần thông bay vào bên trong thành Ca Tỳ La Vệ.

Vào thành rồi, tôn giả bèn chọn lấy năm trăm nhân vật ưu tú của bộ tộc Thích Ca, ngài lại vận dụng thần thông mà thâu nắm họ trong lòng bàn tay rồi lập tức bay ra khỏi thành. Đến một nơi thật an toàn, tôn giả bèn mở lòng bàn tay ra, tưởng là đã cứu thoát được năm trăm người này. Nhưng hỡi ôi, khi nhìn vào tay mình thì Mục Kiền Liên mới hoảng kinh thất sắc, tất cả năm trăm người trong bàn tay ngài đều biến thành tro bụi! Lúc bấy giờ tôn giả mới sực tỉnh ngộ, lời Phật dạy quả không sai, dù thần thông có quảng đại đến thế nào đi nữa, cũng không thể thắng được nghiệp lực cùng những quy luật nhân quả nghiệp báo.

Nhưng hỡi ôi, khi nhìn vào tay mình thì Mục Kiền Liên mới hoảng kinh thất sắc, tất cả năm trăm người trong bàn tay ngài đều biến thành tro bụi. (Ảnh: PxHere)

Không vận dụng thần thông, Tôn giả Mục Kiền Liên nhập niết bàn để hóa giải ân oán

Ngài Mục Kiền Liên thường sử dụng thần thông để trợ lực đức Phật trong việc hoằng dương Phật pháp, công đức thật lớn lao. Mặc dù vậy, từ lâu đức Phật vẫn thường răn dạy chúng đệ tử rằng thần thông không phải là mục đích và tiêu chí của người tu luyện. Sự thật đã chứng minh tôn giả Mục Kiền Liên vốn là bậc thần thông quảng đại như vậy, nhưng rốt cuộc công phu thần thông đệ nhất của ngài đã không giúp tôn giả thắng được nghiệp báo của chính mình. Đức Phật muốn dùng câu chuyện điển hình này để răn dạy người đời sau.

Chuyện kể tiếp rằng: tuy tuổi tác mỗi ngày một cao, nhưng tinh thần hộ giáo hoằng Pháp của tôn giả Mục Kiền Liên vẫn càng lúc càng sung mãn, bước chân hành hóa của ngài cứ như nước chảy mây trôi, không bao giờ ngưng nghỉ. Tôn giả không để ý rằng, chính vì cái nhiệt tâm truyền bá Phật pháp ấy mà đã có rất nhiều tu sĩ ngoại đạo hiềm khích, đố kị và muốn hãm hại ngài.

Một ngày kia trên đường hoằng hóa, khi đi ngang qua một khe núi thì Mục Kiền Liên bị một đám tu sĩ ngoại đạo phái Lõa Hình phục kích. Họ đã xô đá từ trên núi xuống để hãm hại ngài. Đá lăn xuống tới tấp, đè vào người tôn giả, rồi hàng trăm kẻ ác lao tới đâm chém, cho đến khi nhục thân của ngài nhừ nát, ngã gục. Mục Kiền Liên đã phải chết dưới bàn tay họ, vậy mà trong ba ngày liên tiếp những kẻ hành ác vẫn không dám trở lại gần nơi đó, vì vẫn còn sợ thần lực của ngài.

Tôn giả Mục Kiền Liên vì công việc hoằng dương Phật pháp mà đã bị những kẻ ngoại đạo đố kỵ rồi hãm hại, ngài đã vì hậu thế mà nêu lên tấm gương hy sinh vì đạo, thì nhục thân của tôn giả quả thực đã trở thành một tuyên ngôn bất hủ để lại cho thế gian. Máu của ngài đã không đổ ra một cách vô ích, mà dưới ánh quang huy của đức Phật, bao nhiêu vị tiên hiền thánh triết, cũng vì công cuộc hoằng pháp lợi sinh, đã noi theo tôn giả Mục Kiền Liên mà chẳng quản nguy nan lưu truyền Phật Pháp để cho ánh sáng chân lý vẫn tỏa chiếu bất diệt ở thế gian.

Mục Kiền Liên bị một đám tu sĩ ngoại đạo phái Lõa Hình phục kích. (Ảnh: wikiwand.com)

Tin tức tôn giả Mục Kiền Liên bị ngoại đạo ám hại chẳng mấy chốc được truyền đến hoàng cung, vua A Xà Thế bị chấn động mạnh. Nhà vua nổi giận tột cùng, liền hạ lệnh tức tốc tìm bắt hung thủ, và hậu quả tàn khốc đã xảy ra – dưới cơn giận mãnh liệt của nhà vua, đã có đến mấy ngàn tu sĩ phái Lõa Hình bị bắt ném vào hầm lửa!

Trong tăng đoàn thì toàn thể chúng đệ tử, không ai là không than khóc tiếc thương. Ai cũng bảo là trên đời sao có nhiều việc quá bất công, một vị tôn giả xuất đại thần thông như Mục Kiền Liên mà đã không tránh được cuộc tập kích của vài trăm kẻ ngoại đạo! Lòng họ cứ day dứt mà không sao giải tỏa được, bèn cùng nhau tìm đến bái kiến đức Phật để xin chỉ dạy:

– Bạch Thế Tôn! Sư huynh Mục Kiền Liên của chúng con là vị đại đệ tử của Thế Tôn. Khi Thế Tôn lên thiên cung nói pháp cho lệnh bà Ma Da (Mahamaya), sư huynh chúng con đã từng đáp ứng lời thỉnh cầu của chúng con mà từng sử dụng thần thông lên tận thiên cung để vấn an Thế Tôn; sư huynh chúng con cũng đã từng vào chốn địa ngục để cứu mẹ thoát khỏi đau khổ. Sư huynh chúng con oanh liệt là thế, thần thông quảng đại là thế, vì sao mà đã không dùng thần thông để chống lại những kẻ ngoại đạo, thậm chí cũng không trốn tránh sự ám toán của họ?

Vì đã quán triệt được mọi việc xảy ra, đức Phật mới ôn tồn giảng giải cho các Tỳ kheo:

– Này các con! Đại đức Mục Kiền Liên là người đệ tử có thần thông đệ nhất của Như Lai, không phải là ngài ấy không biết trước chuyện gì sẽ xảy đến với mình; cũng không phải là ngài ấy không thể kháng cự nổi những quý vị tu sĩ ngoại đạo kia. Là vì lúc trước, khi vua Lưu Ly dẫn đại quân xâm lăng thành Ca Tì La Vệ, thì chính đại đức Mục Kiền Liên đã từng có lần thi triển thần thông những tưởng có thể cứu được nhân dân trong thành, nhưng rồi sự việc bất thành, ngài ấy đã tỉnh ngộ và nhận ra rằng thần thông không thể nào chống trả được nghiệp lực, nhục thể chỉ là vô thường, và nhân quả nghiệp báo phải có lúc được kết thúc. Trong tiền kiếp đại đức đã từng làm nghề đánh bắt cá để nuôi thân, chẳng biết đã có bao nhiêu mạng sống bị chết oan bởi bàn tay của ngài!

Nhưng này các con! Mọi người cũng không nên đau buồn, đại đức Mục Kiền Liên tuy đã nhập niết bàn, nhưng chân lý thì vẫn vĩnh viễn không bao giờ bị tiêu diệt.

Một số đông Tỳ kheo vẫn không dằn được bi thương, nói:

– Nhưng sư huynh chúng con bị hại thảm thiết quá, bạch Thế Tôn! Chúng con không an tâm được!

Lời khai thị của đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm cho toàn thể các đệ tử của Ngài vô cùng cảm động. (Ảnh: thebuddhadhamma)

– Này các con! Mọi người nên biết, đối với bậc giác ngộ thì việc sinh tử không là vấn đề gì cả. Có sinh thì có tử, cho nên cái chết không làm cho ta kinh hoàng sợ sệt. Điều thiết yếu là chúng ta xem có thể học hỏi gì từ cái chết đó. Đối với đại đức Mục Kiền Liên, trong phút lâm chung, thần trí không hôn mê mà đã an nhiên tự tại nhập niết bàn, đó là điều rất quý báu; đến như tinh thần hi sinh thân mạng vì công cuộc hoằng dương Phật Pháp của đại đức thì quả thật là cao đẹp vô cùng!

Lời khai thị của đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm cho toàn thể các đệ tử của Ngài vô cùng cảm động. Cái chết vì đạo của Mục Kiền Liên đã khích lệ vô số các vị Tỳ kheo khác. Tất cả họ đều noi theo gương Tôn giả Mục Kiền Liên mà phát nguyện hoằng dương Phật Pháp và tinh tấn tu luyện thường hằng cho tới ngày công thành viên mãn.

Lời bàn:

Xưa nay những kẻ ngộ tính kém thì vẫn luôn khao khát tu xuất công năng đặc dị hoặc thần thông diệu pháp để thi triển với đời và chiếm phần lợi thế. Đâu có biết rằng Phật gia từng tuyên giảng thần thông là sản phẩm tất yếu của quá trình tu luyện và chỉ khi người ta có tâm tính, phẩm đức ở cảnh giới rất cao siêu, lại phải có minh Sư dẫn dắt, Đại Pháp cao thâm chỉ đạo, diễn hóa thì mới có thể tu xuất thần thông… Những bậc đại đức, tâm tính cao như vậy hẳn sẽ không có ai hồ đồ mà tùy tiện vận dụng thần thông vào những sự việc trái với thiên lý và đi ngược lại quy luật nhân quả nghiệp đức thường hằng.

Tôn giả Mục Kiền Liên trong câu chuyện cũng đã từng thi triển thần thông để cứu năm trăm chúng sinh nơi quê hương đức Phật nhưng kết quả hoàn toàn không như ngài mong đợi, bởi lẽ thần thông không thể hóa giải được tội lỗi và nghiệp lực ở tự thân của mỗi người, càng không thể trái với thiên lý mà làm đảo lộn các mối quan hệ nhân duyên, nghiệp báo nhân quả… muốn hóa giải được những vấn đề phức tạp kể trên thì chỉ có tu luyện trong Chính Pháp, đề cao tâm tính, hồi thăng đạo đức, đó mới là giải pháp căn bản.

Tôn Ngộ Không có phép “Cân đẩu vân” đi mây về gió, hoàn toàn có thể mang sư phụ Đường Tăng bay đến Tây Thiên chỉ trong nháy mắt. Nhưng bốn thầy trò vẫn phải bôn ba trên suốt lộ trình, vật lộn với 81 kiếp nạn dưới hạ giới. (Ảnh: Youtube)

Thiển đàm về thần thông và tu luyện, lại nhớ đến nhân vật Tôn Ngộ Không – Tề Thiên Đại Thánh khi xưa có bảy mươi hai phép biến hóa thần thông, trong đó có thuật “Cân đẩu vân”, chỉ cần nhào lộn một vòng trên mây đã có thể bay xa mười vạn tám nghìn dặm (tương đương khoảng 54 nghìn ki-lô-mét).

Nếu như Ngộ Không dùng phép “Cân đẩu vân” này mà cõng Đường Tăng bay sang Tây Trúc thỉnh kinh thì  “khỏe” quá rồi, đúng là: cập bến Tây Thiên chỉ trong nháy mắt! Bốn thầy trò khỏi phải nhọc công tốn sức trèo núi lội sông, vượt đường xa vạn lý, chịu cảnh ăn đói mặc rét, màn trời chiếu đất lại thêm bao phen bị yêu quái hãm hại, cứ như thế mà trải qua đủ tám mươi mốt kiếp nạn… gian khó, hiểm nguy cùng cực. Đó cũng là vì thần thông không hóa giải được nghiệp lực, bốn thầy trò Đường Tăng cũng phải kinh qua gian khổ mà đề cao tâm tính, tiêu trừ nghiệp lực của tự thân thì mới có thể công thành viên mãn được. Đó chính là đạo lý.

Như tôn giả Mục Kiền Liên là đấng giác ngộ, với thần thông siêu xuất, ngài thừa biết trước chuyện gì sẽ xảy đến với mình, cũng lại có thừa khả năng để trừng trị hết thảy những kẻ tà ác đang xuống tay hãm hại mình, nhưng bậc đại đức đã không làm thế. Ngài lựa chọn con đường nhập niết bàn mà hóa giải ân oán và để lại tấm gương hoằng dương Phật Pháp cho muôn đời sau. Một người tu luyện thấu triệt đạo lý như vậy: nghĩ cho người trước, nghĩ cho mình sau, từ bi vô lượng, lấy đức báo oán, dùng Thiện đãi người, xả bỏ sinh tử… thì cớ gì không siêu xuất khỏi thế gian mà viên mãn quả vị Thần thánh cho được.

Đường Phong

Ở một thôn trang xa xôi, có đôi vợ chồng nọ khi còn sống vẫn thường lên chùa cúng Thần bái Phật. Họ cùng ăn chay tu Phật và cũng thường xuyên tham gia các buổi hoằng Pháp. Họ thấy rằng cuộc sống thật là tốt, điều gì cũng thuận lợi, mong muốn nào cũng toại nguyện, nên trong lòng càng yên tâm, tin rằng mình thể nào cũng được vãng sinh nơi miền Cực Lạc.

 

 

 

Ăn chay, niệm Phật, bố thí… vì sao chết đi vẫn phải xuống địa ngục?

Ăn chay, niệm Phật, bố thí… vì sao chết đi vẫn phải xuống địa ngục?

Опубликовано Đại Kỷ Nguyên – News Суббота, 28 апреля 2018 г.

 

 

 

Ở một thôn trang xa xôi, có đôi vợ chồng nọ khi còn sống vẫn thường lên chùa cúng Thần bái Phật. Họ cùng ăn chay tu Phật và cũng thường xuyên tham gia các buổi hoằng Pháp. Họ thấy rằng cuộc sống thật là tốt, điều gì cũng thuận lợi, mong muốn nào cũng toại nguyện, nên trong lòng càng yên tâm, tin rằng mình thể nào cũng được vãng sinh nơi miền Cực Lạc.

Nhân quả hữu báo, tích đức hành thiện phải chăng là điều không thực? Từ chối tà dâm được và mất những gì? Sau đây là một câu chuyện có thật được ghi chép trong lịch sử.

Tổ tiên tích đức, con cháu được phúc báo công danh, đây chính là điều mà ông cha ta muôn đời luôn răn dạy. Tuy nhiên, với xã hội ngày nay, khi cuộc sống vật chất lên ngôi, luân thường đạo lý bị người đời ngày một xem nhẹ, người ta có thể vì lợi mà quên tình phụ nghĩa, thì nhắc đến nhân quả hữu báo sẽ có nhiều người cho rằng đó chỉ là điều hư ảo, là nói chuyện mông lung vô thực.

Vậy nhân quả hữu báo, tích đức hành thiện phải chăng là điều không thực? Từ chối tà dâm được và mất những gì? Sau đây là một câu chuyện có thật được ghi chép trong lịch sử.

Năm Thuận Trị thứ 16 (1659), tại núi Côn Sơn có một người tên Từ Lập Trai thi đỗ trạng nguyên. Năm đó, trước lúc Từ Lập Trai thi đỗ trạng nguyên, có một người đến miếu Thành Hoàng làm lễ khẩn cầu, lễ xong vì trời đã khuya nên người này ở lại ngủ qua đêm tại miếu.

Đêm đến, trong lúc đang ngủ thì đột nhiên thức giấc, thấy Thành Hoàng hiển linh, gọi người này đến rồi nói: “Từ Lập Trai năm nay sẽ thi đỗ trạng nguyên, ngươi có biết nguyên nhân vì sao không? Đây chính là vì tổ tiên của Từ Lập Trai ăn ở thiện lương, từ chối không làm việc tà dâm, lâu ngày tích được âm đức khiến trời cao cảm động mà hồi đáp cho con cháu nhà họ Từ. Lần này Từ gia đỗ trạng nguyên cũng chỉ là việc khởi đầu mà thôi, đây chính là: “Công danh tuy khó, nhưng quả báo luôn rõ ràng”. Nay ta nói cho ngươi biết rõ chân tướng của việc này, ngươi hãy truyền ra cho những người thế gian còn đang làm điều tà dâm, hãy mau chóng kịp thời hối cải”. Nói xong Thành Hoàng liền rời đi.

Sự việc sau đó được truyền rộng khắp nơi xa chốn gần, và quả nhiên sau đó, Từ Lập Trai thi đỗ trạng nguyên. Hơn nữa, đây cũng chỉ là sự việc khởi đầu mà thôi, hai huynh đệ của Từ Lập Trai là Từ Kiện Am và Từ Ngạn Hòa sau này đều lần lượt đỗ trạng nguyên vào năm Khang Hy thứ 9 (1670) và Khang Hy thứ 12 (1673).

Một người hành thiện tích đức, bản thân dù chưa được hưởng lợi thì con cháu cũng nhờ phước tổ tiên mà hưởng phúc một đời. (Ảnh: tanphukhanh.com)

Huynh đệ ba người trong một nhà cùng đỗ trạng nguyên quả là điều xưa nay hiếm thấy. Con cháu họ Từ sau này cũng thường nhắc tới câu chuyện này để răn dạy cháu con, người đời cũng vì thế mà lấy làm bài học.

“Tổ tiên tích đức, con cháu hưởng phúc”, hay “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, đây đều là những câu nói vô cùng chính xác, khuyên nhủ con người chúng ta không thể làm ác, đặc biệt là chuyện tà dâm. Một người khi đã phạm phải việc tà dâm, dù bản thân không phải ngay lập tức chịu cảnh đọa đày, thì con cháu sau này cũng phải gánh lấy tai ương. Ngược lại, một người hành thiện tích đức, bản thân dù chưa được hưởng lợi thì con cháu cũng nhờ phước tổ tiên mà hưởng phúc một đời.

Một người khi đã phát sinh mối quan hệ ngoài hôn nhân, dù không đi quá giới hạn về thân xác, thì tư tưởng của người đó cũng đã nhiễm bẩn, tư chất không còn trong sáng, đây đã là điều phạm vào giới quy của đạo đức, không thể tùy tiện. Làm người không những phải tự ước thúc bản thân sống trong sạch, không thể phạm tội tà dâm, mà ngay cả trong tư tưởng cũng không thể nghĩ đến những việc đó. Nếu không thì trong mắt Thần Phật, người đó cũng là phạm tội nghiêm trọng mất rồi.

Cổ nhân có câu: “Vạn ác dâm vi thủ” – trong trăm nghìn cái ác thì tà dâm chính là tội đứng đầu. Một khi con người phạm phải lỗi sắc dục thì tất cả mọi nhân cách khác đều sẽ bằng không, sẽ trở thành yếu nhược.

Theo bldaily.com 
Đức Khải biên dịch

Người sống ở đời, gieo nhân nào gặt quả nấy, nhân quả tuần hoàn, thiên lý soi rọi, chà đạp nhân luân ắt sẽ nhận phải báo ứng, dù cho đến kiếp sau cũng sẽ bởi vậy mà sống rất bi thảm.

Trong một túp lều tranh rất là tồi tàn, có một cậu bé ăn xin tướng mạo xấu xí lại bị gù lưng sống cùng với mẹ.

Bố của cậu cũng là xin ăn sống qua ngày, nhưng gần đây những thứ xin được càng ngày càng khó khăn, thế là bố cậu liền đuổi cậu ra khỏi nhà.

Cậu bé ăn xin đáng thương trông vừa xấu xí lại nhỏ tuổi, mấy ngày liên tục đều không xin được một bữa cơm, cả ngày đói đến đầu óc quay cuồng, rất may có một ngôi chùa chịu giữ cậu ở lại.

Trụ trì trong chùa phân công cho cậu phụ trách quét dọn các bàn thờ cúng được đặt trước tượng Phật trong chùa, sau đó mỗi ngày cung cấp cơm trà cho cậu. Cậu bé ăn xin rất lấy làm vui mừng, cuối cùng cũng đã có nơi cho cậu ăn no cơm rồi, thế là cậu bé ăn xin trở thành một vị tiểu hòa thượng.

Nhưng ngày hôm sau, khi tiểu hòa thượng đến Phật đường xem thử, thì thấy một hòa thượng mập mạp đang quét dọn bàn thờ, hơn nữa lau chùi rất là dụng tâm, bàn thờ được lau chùi sạch sẽ bóng loáng. Tiểu hòa thượng không có ra ngoài hóa duyên, cũng không có quét dọn, tự nhiên không có cơm ăn, cứ như vậy đã đói một ngày trời.

Ngày hôm sau, tiểu hòa thượng lần nữa đi quét dọn, phát hiện vị sư huynh mập mạp đó lại đã quét dọn sạch sẽ cả rồi, tiểu hòa thượng vẫn là không có cơ hội quét dọn, nên cũng không có mặt mũi nào đi nhận cơm ăn.

Tiểu hòa thượng bụng đói đến đầu óc có phần choáng váng, một vị sư huynh cao cao nhìn thấy bộ dạng của tiểu hòa thượng như vậy rất lấy làm lo lắng, hỏi tiểu hòa thượng đã xảy ra chuyện gì?

Tiểu hòa thượng nói bản thân đã hai ngày không ăn cơm rồi, thế là vị sư huynh cao ráo nói: “Ngày mai huynh đi hóa duyên sẽ mang theo hai cái bình bát, xin thêm một bát cơm chay về cho đệ vậy”.

(Ảnh: soha.vn)

Ngày thứ ba, tiểu hòa thượng bụng đói đến nằm bệt trên giường, không đứng dậy được nữa, nằm đó đợi vị sư huynh cao cao kia mang cơm chay về cho mình.

Tiểu hòa thượng đợi mãi đợi mãi, trông ngóng mãi, sắc trời cũng đã dần dần tối rồi, cuối cùng vị sư huynh cao ráo đã trở về. Đại sư huynh hai tay trống không trở về nói với tiểu hòa thượng rằng: “Sư đệ à, khi nãy trên đường trở về chẳng may gặp phải một bầy chó dữ, đã ăn hết số cơm chay huynh xin cho đệ rồi”. Tiểu hòa thượng giọng yếu ớt nói với sư huynh rằng: “Không sao đâu, cảm ơn sư huynh”.

Ngày thứ tư, một vị Thần Thông đại sư huynh đi hóa duyên, cuối cùng đã tránh được bầy chó dữ đó, và đã an toàn mang cơm chay trở về. Thần Thông đại sư huynh đi vào phòng của tiểu hòa thượng, phát hiện trong gian phòng của tiểu hòa thượng không biết vì sao cửa sổ đều bị khóa lại. Thế là đại sư huynh bèn vận dụng thần thông của mình, một đạo kim quang, dẫn theo Thần Thông đại sư huynh xuyên qua cánh cửa bước vào.

Sau khi nhìn thấy tiểu hòa thượng, liền nói: “Sư đệ hãy mau ăn cơm đi!”.

Tay của tiểu hòa thượng vừa mới chạm được đến cái bình bát đựng cơm đó, bình bát đó bỗng chốc liền rơi đổ hết cơm xuống mặt sàn.

Thần Thông đại sư huynh trông thấy, hai tay hợp thập miệng đọc chú ngữ, gắng gượng nhặt số cơm đang rơi giữa không trung lên, lần nữa bưng đến trước mặt tiểu hòa thượng, lúc này tiếng chuông trong chùa vang lên, vừa khéo là giữa trưa, chúng hòa thượng cần phải tuân giữ giới luật “quá giờ ngọ không dùng bữa”.

Thần Thông đại sư huynh có chút khó chịu, loay hoay cả nửa ngày trời vẫn không thể giúp tiểu hòa thượng ăn được nửa miếng cơm.

Thế là, tiểu hòa thượng nở nụ cười yếu ớt với Thần Thông đại sư huynh, nói: “Cảm ơn Thần Thông đại sư huynh. Mong huynh cho đệ một bát nước”. Thần Thông đại sư huynh nghĩ, ăn không được cơm, có thể uống ngụm nước cũng tốt vậy. Bèn quay người ra ngoài lấy nước.

Đại sư huynh nghe thấy tiểu hòa thượng nói ở sau lưng mình rằng: “Thần Thông đại sư huynh, xin hãy cho thêm một ít tro vào trong nước”.

Thần Thông đại sư huynh cảm thấy buồn bực, nhưng vẫn nhận lời tiểu hòa thượng.

(Ảnh: Youtube)

Lúc này, tiểu hòa thượng đã hơi thở thoi thóp.

Thần Thông đại sư huynh bưng đến một bát nước có cho thêm tro vào, tiểu hòa thượng một mạch uống hết, tiếp đó tiểu hòa thượng lại có thể ngồi dậy được.

Tiểu hòa thượng ánh mắt long lanh nói với Thần Thông đại sư huynh rằng: “Có phải huynh rất lấy làm kỳ lạ vì sao đệ lại uống nước cho thêm tro vào? Để đệ nói rõ duyên cớ cho huynh vậy”.

Thì ra tiểu hòa thượng ngay từ khi mới sinh ra đã nhớ được kiếp trước của bản thân mình.

Đời trước tiểu hòa thượng là một công tử nhà giàu có. Sau khi cha cậu qua đời đã để lại toàn bộ tài sản cho cậu. Mẹ cậu là người thích bố thí hành thiện giúp người, luôn bố thí tiền của lương thực cho những người ăn xin. Cậu công tử nhà giàu này bản tánh rất là keo kiệt, rất không thích mẹ mình làm như vậy.

Thế là, một ngày kia sau khi mẹ cậu bố thí tiền của lương thực cho bọn người ăn xin, cậu công tử nhà giàu tức giận xô ngã mẹ mình, và hét lên rằng: “Số tiền này đều là cha để lại cho tôi, chứ đâu có để lại cho cái bọn ăn mày này!”. Cậu công tử ngỗ nghịch lôi mẹ mình về nhà và nhốt trong phòng, bảy ngày bảy đêm không cho mẹ mình ăn cơm uống nước.

Đến ngày thứ tám, cậu công tử nhà giàu tưởng rằng mẹ mình đã đói chết, liền mở khóa cửa, nhìn thấy mẹ mình nằm bệt dưới đất vẫn còn hơi thở, mắt nhắm mắt mở. Cậu ta hỏi mẹ của mình: “Bà nói cái gì?”.

Trong cổ họng khàn khàn của người mẹ phát ra một chữ “nước”.

Thế là, công tử nhà giàu bèn nghĩ: “Được, thế thì mình sẽ thêm một chút tro vào trong nước, dù bà ta không bị nghẹn chết cũng sẽ bị sặc chết”.

Cậu công tử nhà giàu mang đến nước tro cho mẹ mình, người mẹ sau khi uống xong quả nhiên đã bị sặc chết.

Thần Thông đại sư huynh nghe xong, gật gật đầu như hiểu ra điều gì đó.

Tiểu hòa thượng mỉm cười nói: “Đây chính là báo ứng của đệ”. Thế là cậu nằm trên giường, một lúc sau đã tắt thở.

Người sống ở đời, gieo nhân nào gặt quả nấy. (Ảnh: pixabay.com)

Người sống ở đời, gieo nhân nào gặt quả nấy, nhân quả tuần hoàn, thiên lý soi rọi, chà đạp nhân luân ắt sẽ nhận phải báo ứng, dù cho đến kiếp sau cũng sẽ bởi vậy mà sống rất bi thảm. Vậy nên chúng ta thân là con nhất định phải làm tròn hiếu đạo, để cha mẹ được an hưởng tuổi già. Nếu như ngay đến cả những đạo lý cơ bản nhất này cũng không làm được, không hiếu thuận với cha mẹ, thế thì thật uổng làm người rồi!

Theo bldaily.com 
Vũ Dương biên dịch

Văn hoá truyền thống phương Đông và phương Tây đều rất coi trọng lời thề, coi đó là thệ ước của con người với Trời và Thần, tuyệt đối tôn nghiêm thần thánh. Những ai tuỳ tiện phát lời thề độc, coi thường nhân – quả, đều phải chịu kết cục bi thảm.

Dưới đây là ba câu chuyện có thật về linh ứng của lời thề độc.

Phát lời thề độc, lời thề ứng nghiệm hóa thân trâu

Năm thứ 5 thời Đường Vĩnh Huy, phía đông nam ngoài kinh thành có một nơi tên là Thê Gia Chủy, vùng này có một nơi gọi là Linh Tuyền, lý trưởng trong làng tên Trình Hoa.

Mùa thu năm nọ, trong lúc thu thuế than, một thợ than đã đóng tiền cho Trình Hoa. Nhưng chàng thợ than này bởi gia cảnh quá nghèo, từ nhỏ không được đi học, vậy nên một chữ bẻ đôi cũng không biết, chàng không có xin đòi Trình Hoa đưa mình biên lai.

Về sau, Trình Hoa lại lần nữa khi đòi tiền chàng, chàng không sao hiểu nổi, nói bản thân mình đã nộp tiền cho ông rồi. Trình Hoa lại nói: “Nếu tôi đã nhận tiền cậu, thế cậu hãy đưa biên lai cho tôi xem thử nào”. Chàng thợ than nói: “Tôi không biết chữ, lúc đầu ông nói không cần phải ghi biên lai, vậy nên tôi không có đòi. Cớ chi hôm nay lại còn đòi tôi đóng tiền nữa vậy?”.

Trình Hoa vốn là người không tin vào nhân quả báo ứng, liền phát lời thề độc rằng: “Nếu tôi đã từng nhận tiền của cậu, sau khi chết sẽ làm thân trâu ngựa hoàn trả cho cậu, vậy được chưa?”. Chàng thợ than rất là buồn bực, đành phải đóng tiền cho Trình Hoa lần nữa.

Trình Hoa vốn không tin vào nhân quả báo ứng, tùy tiện thề độc. (Ảnh: youtube.com)

Không đến 4, 5 tháng sau, Trình Hoa bất ngờ qua đời. Đồng thời, trâu mẹ trong nhà của chàng thợ than ngay chính lúc đó cũng sinh hạ một con nghé, toàn thân nghé đều là màu đen, chỉ riêng phần trên trán có hai chữ màu trắng: Trình Hoa. Mọi người đều biết đây là Trình Hoa chuyển sinh.

Con cái của Trình Hoa hay chuyện, muốn dùng số tiền lớn để chuộc mua trâu con về, nhưng chàng thợ than không đồng ý.

(Tích từ “Pháp Uyển Chu Lâm”)

“Nếu tôi làm trái pháp luật thì sẽ bị vỡ đầu, óc trộn lẫn với đất”

Vào giữa những năm Hàm Phong đời nhà Thanh, châu Trực Lệ, vùng Tuân Hóa (thành phố Tuân Hóa, tỉnh Hà Bắc ngày nay) có vị quan Thứ sử, là trưởng quan hành chính cao nhất của một châu. Vị quan Thứ sử này vì để khoe khoang bản thân mình rất thanh liêm, đã đặc biệt viết ra một câu đối treo ngay giữa đại sảnh: “Ngã như uổng pháp não đồ địa, nhĩ mạc khi tâm đầu hữu thiên”. Đại ý là, nếu tôi làm trái pháp luật thì sẽ bị vỡ đầu, óc trộn lẫn với đất; anh chớ làm chuyện dối lòng, bởi trên đầu còn có thần linh.

Tuy vậy, trên thực tế ông ta lại là một tên tham quan, đã làm không ít những chuyện tham ô trái pháp luật, đến nỗi phần lớn người dân của cả châu đều có thể chỉ ra mấy vụ việc. Câu đối của ông ta chẳng qua chỉ là dối mình dối người, hòng che đậy tai mắt người đời mà thôi.

Bởi thời đó quan trường hủ bại, vị quan Thứ sử này vẫn lại có thể bình an về hưu, trở về huyện nào đó của tỉnh Hà Nam nơi quê nhà dưỡng lão. Một ngày kia, ông đang trên đường leo núi chẳng may bị sẩy chân ngã lăn xuống, đầu đập phải tảng đá, ngay lập tức đầu não nứt toác chết ngay tại hiện trường, óc não đều chảy ra. Quả thật đã ứng nghiệm câu nói “nếu tôi làm trái pháp luật thì sẽ bị vỡ đầu, óc trộn lẫn với đất” trong câu đối.

Tham ô công quỹ, chết chẳng toàn thây

Huyện Thanh Phổ (vùng Thanh Phổ, Thượng Hải ngày nay) có một vị huyện lệnh, muốn thu thêm phí vận tải đường thủy hòng trục lợi cho bản thân, mỗi một thạch lương thực muốn thu thêm mấy trăm tiền, người dân trong huyện nhao nhao đưa ra chất vấn, tiếng phản đối dấy lên khắp cả một vùng.

Vị huyện lệnh Thanh Phổ vì lợi ích mà không màng đến “nhân quả”, làm khổ mình khổ người. (Ảnh: youtube.com)

Ông ta bèn triệu tập người dân, dẫn theo 20 vị quan cấp dưới có liên quan đến sự vụ vận chuyển đến trước miếu Thành hoàng phát lời thề độc ngay trước mặt bàn dân thiên hạ: “Khoản chi phí tăng thêm kia cũng là bắt nguồn từ sự bất đắc dĩ, chứ không phải là để đút túi riêng, khoản kinh phí gia tăng đó toàn bộ đều sẽ được sung vào công quỹ. Nếu có người dám chiếm dụng dù chỉ một phân tiền, quan viên đó khi chết đều không thể giữ lại cái đầu, đầu và thân tách rời, không ở cùng một chỗ, chúng quan lại cấp dưới đều bị báo ứng hiện tiền”.

Thời đó, mọi người đều tin Thần rộng khắp, nhìn thấy huyện lệnh dẫn theo mọi người phát lời thề độc trước tượng Thần như vậy, trong lòng cũng đã tin tưởng, tiền rất mau chóng đã được thu về. Tuy vậy, huyện lệnh này lại cùng với các quan nhỏ cấp dưới nhét đầy túi riêng, cùng nhau chia chác khoản tiền này.

Không đến một năm, toàn bộ hai mươi vị quan cấp dưới này lại lần lượt nối tiếp nhau qua đời, phần cổ của huyện lệnh cũng lở loét sinh thành một vết loét lớn, bệnh tình ngày càng nguy kịch. Một ngày kia, người canh cửa của huyện nha trong lúc hoảng hốt nhìn thấy một người tướng mạo trông giống hệt như thần Thành hoàng đi vào, trong nháy mắt lại nhìn thấy ông ta xách theo đầu của huyện lệnh chậm bước rời đi.

Người canh cửa hiểu rằng thần Thành hoàng đã đến, vội vàng chạy ra hậu viện sân sau, xem tình hình của huyện lệnh như thế nào. Thời đó, huyện nha sân trước đều là làm việc công, còn sân sau thì dùng cho huyện lệnh ở. Vừa mới đi được mấy bước, ông liền nghe thấy sân sau có tiếng khóc than của thân nhân huyện lệnh vọng đến, thì ra huyện lệnh vừa mới qua đời, khi chết “phần cổ nát vụn rơi xuống mà chết”, thần Thành hoàng thật sự đã ứng nghiệm lời thề độc ngày trước của ông ta. Thông qua cái chết của chúng quan lại và huyện lệnh, mọi người dân cũng đều biết họ đều đã làm trái lời thề độc, đã tham ô khoản tiền thu thêm kia, nên mới nhận phải cái kết thê thảm như vậy.

Theo secretchina.com
Thuận An biên dịch

Làng Cam Lâm có một chàng ngốc. Ngay từ lúc mới chào thì mẹ qua đời, chưa đến hai năm sau thì bố chú ngốc cũng ra đi. Chú ngốc ấy nhờ sự cưu mang của xóm làng mà sống qua ngày…

Đầu óc của chú không được linh hoạt lắm, lúc nào cũng ngây ngô đần độn, ngay đến cả một câu nói đơn giản cũng đều không thể diễn đạt cho rõ nghĩa được. Mọi người trong làng ngoài việc bố thí cho chú cái ăn cái mặc ra, trước nay không có ai nguyện ý ở gần chú ấy cả. Một là bởi chú ta ngốc, hai là mọi người cứ hay đồn tai nhau, nói chú ta vừa mới chào đời đã khắc chết bố mẹ, chẳng phải là người tốt lành gì.

Trong làng có một bà già họ Dương, nguyên là hàng xóm láng giềng gần nhà của chú ngốc. Bà Dương tâm lòng lương thiện, hòa nhã dễ gần, là người duy nhất nguyện ý ở gần chú ấy. Lúc nhỏ cũng may được bà Dương chăm sóc, chú ngốc mới có thể lớn lên thành người được.

Chàng ngốc lúc nhỏ. (Ảnh: youtube.com)

Con trai con dâu của bà Dương đều làm việc ở thị thành. Năm đó, hai vợ chồng họ gửi cháu bé 5 tuổi về quê nhà cho bà Dương chăm sóc, chú ngốc cũng thường ghé qua nhà họ Dương chơi đùa với đứa cháu đó. Tuy luôn bị người ta gọi là gã ngốc, tuy luôn bị ức hiếp bắt nạt, nhưng trước nay chú ta cũng chỉ cười hà hà.

Một ngày kia, bà Dương đi đến đầu làng gánh nước, chú ngốc nhìn thấy vội vàng chạy đến giúp đỡ. Sau khi chiếc thùng đựng đầy nước rồi, chú ngốc cầm lấy đòn gánh gánh thùng nước trên vai, rồi cùng bà Dương đi về nhà. Trên đường nhìn thấy ông Lý nhà ở đầu làng, chú ngốc đột nhiên dừng chân lại, thần sắc nặng nề, miệng nói một câu hết sức rõ ràng:

“Ông Lý này chẳng còn sống được mấy ngày nữa”.

Bà Dương vội chạy lên lấy tay bịt miệng chú ấy lại, nói:

“Đừng nói năng lung tung, nếu để người ta nghe thấy, há không bị một trận no đòn hay sao”.

Bà Dương vừa nói xong, liền cảm thấy có gì đó không đúng, điệu bộ nói chuyện của chú ngốc khi nãy thật không giống một kẻ ngốc chút nào, mà nghiêm túc giống như người bình thường vậy. Bà đưa mắt nhìn chú và nhủ thầm có lẽ là mình đã nghĩ nhiều rồi, nên cũng không có để ý gì thêm nữa.

Mấy ngày sau, bà Dương hốt hoảng chạy đến nhà chú ngốc, kéo lấy chú ấy nói:

“Ông Lý đã đi rồi, mấy ngày trước cậu gặp chú ấy nói chú ấy không còn sống được thêm mấy ngày nữa, sao cậu lại biết được vậy?”.

Chú ngốc dường như nghe không hiểu lời của bà Dương, chỉ biết cười ngây ngô với bà, bà Dương thở dài một hơi, lòng nghĩ:

“Ngốc nghếch như cậu ta thì biết gì cơ chứ, có lẽ chỉ là ăn nói lung tung, vừa khéo mèo mù đụng phải chuột chết mà thôi”.

Chuyện đó cứ thế qua đi. Hai năm sau vào một ngày chiều tối, bà Dương đã làm rất nhiều món ngon, gọi chú ngốc sang ăn cùng. Chú ngốc sang đến nơi nhìn thấy cháu bé đang gấp máy bay giấy chơi trong nhà liền ngây người ra. Bà Dương dọn đồ ăn lên bàn xong, liền gọi chú ấy:

“Cậu còn ngây người ra đó làm gì? Mau ngồi vào bàn ăn cơm thôi”.

Chú ngốc bước đến trước mặt bà Dương, nghiêm túc nói:

“Mấy ngày này, bác nhớ đừng cho thằng cháu của bác ra bờ sông chơi, nếu không sẽ có chuyện đấy”.

Bà Dương nghe xong, rất lấy làm không vui, lòng nghĩ thầm: Tôi mời cậu sang đây ăn cơm, còn cậu lại nguyền rủa cháu tôi có chuyện. Ngay lúc đang muốn mắng chú ngốc một trận, chợt lại nghĩ đến chuyện của ông Lý ở đầu làng ngày trước, lời đến miệng bèn thu lại. Chú ngốc lại trở về chú ngốc, bà Dương dùng bữa với tâm trạng không vui.

Ngày hôm sau, mấy đứa trẻ trong làng đến tìm cháu nhà bà Dương cùng đi chơi, lũ trẻ chạy nhảy nô đùa rất là thích thú, đang chơi đang chơi cứ thế đã chạy đến bờ sông ngoài thôn. Lũ trẻ liền xắn ống quần, ống tay áo lên, rồi chạy đến bờ sông nghịch nước, đột nhiên, cháu của bà Dương trượt chân ngã xuống sông, từng ngụm từng ngụm nước đổ dồn vào miệng, cậu bé gắng sức giãy giụa chới với.

Đúng như lời chú ngốc, cháu của bà Dương trượt chân ngã xuống sông. (Pinterest.com)

Chính ngay lúc cậu bé sắp bị chìm xuống, chú ngốc không biết từ đâu lao đến, “ùm” một tiếng, nhảy xuống sông cứu cháu trai của bà Dương lên. Sau khi hai người đi lên bờ, bà Dương hay tin từ trước vội vàng chạy đến nhìn thấy chú ngốc đang làm hô hấp nhân tạo cấp cứu cho cháu mình. Lúc này, chợt bà cảm thấy chú ngốc này vốn không ngốc chút nào.

Cháu của bà Dương được cứu sống, nhưng chính ngay lúc bà đang vui mừng khôn xiết, bên cạnh lại có tiếng khóc vọng đến, thì ra bé trai nhà họ Trương không biết từ lúc nào cũng rơi xuống sông, điều không may là, khi mọi người chạy đến ứng cứu thì đã quá trễ rồi.

Cháu của bà Dương tránh qua được kiếp nạn, bà vừa vui mừng lại vừa đau buồn. Buồn vì cậu bé nhà Trương còn nhỏ như vậy đã ra đi rồi, mừng vì cháu mình may thay bình an vô sự. Bà Dương bây giờ thật sự tin tưởng chú ngốc này nhìn thấy được sinh tử của người ta, với chú ấy càng thêm phần cảm kích.

Buổi chiều, bà Dương đặc biệt làm thịt con gà trong nhà, còn mua thịt heo, chuẩn bị rất nhiều món cảm ơn chú ngốc. Buổi tối, sau khi nấu nướng xong xuôi, liền đi sang nhà chú ngốc mời qua ăn cơm. Vừa bước ra khỏi cửa bỗng nghe thấy: “đoàng” – một tiếng sét vang lên, tiếp đó lại thêm phát thứ hai, phát thứ ba bổ xuống, âm thanh chấn động cả tai, hơn nữa đều là nhắm vào nhà chú ngốc bổ xuống.

Bà Dương vội vàng chạy vào nhà chú ngốc xem thử, phát hiện trong nhà một mùi cháy khét lẹt, thì ra là chú ngốc bị sét đánh trúng, khắp người đều cháy đen cả. Bà Dương không cầm được liền khóc òa lên. Chú ngốc chỉ một thân một mình, bà muốn lo liệu hậu sự cho chú ấy.

Bà Dương chạy đi gọi người làm tang sự trong làng đến giúp đỡ. Khi về đến nơi thì thấy chú ngốc đang ngồi ngay ngắn trong nhà, khiến bà một phen hú vía như nhìn thấy ma vậy. Sau khi xác nhận chú ngốc vẫn còn sống, bèn hỏi chú ấy đây rốt cuộc là chuyện gì. Chú ngốc với ánh mắt rất có thần thái, nói rất trôi chảy:

“Chính như bác đã thấy đấy, cháu rất tốt, chỉ là thần thông trước đây nay đã không còn nữa rồi”.

Vì tiết lộ “thiên cơ” nên chú ngốc bị mất đi công năng. (Ảnh: youtube.com)

Thì ra, chú ngốc lúc nhỏ đã có một loại thần thông, có thể nhìn thấy sinh tử của người ta, nhưng chú cũng chỉ có thể nhìn thấy nhưng lại không thể thay đổi. Hôm đó chính là vì đã cứu cháu trai của bà Dương mà bị trời trách phạt, ba tia sét đó đã thu hồi lại thần thông của chú ấy. Lại cũng bởi họa mà được phúc, nhờ vậy mà chú ấy giờ đã trở thành người bình thường.

Cứ như vậy, chú ngốc đã không còn ngốc nghếch nữa, hơn nữa còn rất là thông minh. Bà Dương nhìn thấy chú ngốc khổ tận cam lai, không cầm lòng được ôm chầm lấy chú mà khóc.

Lời bàn:

Kỳ thật, người đời không thích tra cứu nhân quả của sự tình, mà chỉ nhìn vào kết quả sau cùng.

Cũng bởi chỉ nói cho bạn biết kết quả sau cùng, nên bạn làm sao biết được nhân quả trong đó đây?

Suy nghĩ kỹ một chút nữa, vì sao thiên cơ lại không thể tiết lộ được đây?

Nói tóm lại chính là: Dù có nhìn thấu cũng không được nói thẳng ra, nói ra chính là đồng như mắc tội vậy.

Theo “Liêu Trai kỳ đàm”
Phi Long biên dịch

Cách đây đã lâu lắm rồi, thành Thiên Thanh là một vùng đất trù phú, một nơi mỹ lệ huy hoàng. Nơi ấy đất đai bằng phẳng, bốn mùa hoa trái tốt tươi, chim ca ríu rít, người với người bất kể địa vị giàu sang, ai ai cũng sống với nhau thiện lương, chân thành.

Cách Thiên Thanh không xa là tòa thành Thiên Thượng, cũng là một nơi huy hoàng mỹ lệ. Ở đây sơn thủy hữu tình, cảnh quan tráng lệ, xứng danh là một “tòa thiên nhiên” cho lòng người thưởng lãm.

Cư dân trong hai tòa thành vẫn thường giao thương qua lại với nhau. Người vùng này quý cảnh sắc phong lưu của vùng kia, người vùng kia lại mến cuộc sống nhân ái chan hòa của vùng này.

Nhưng từ tòa thành nọ muốn sang tòa thành kia, họ nhất định phải đi vào ban ngày, khi bầu trời còn sáng. Bởi hễ mặt trời khuất sau rặng núi, màn đêm buông xuống, bóng tối bao trùm không gian, thì ở con hẻm dưới chân núi ngăn cách giữa hai tòa thành, yêu ma bắt đầu xuất động. Bất cứ ai đi trên con đường này khi trời tối đều trở nên u mê lạc lối, chưa một ai có thể quay về.

Con hẻm kỳ lạ ấy là một nơi độc nhất vô nhị, nơi duy nhất trên thế gian mà ma quỷ dám nhiễu nhương phát tác. Vậy nên người ta bèn gọi con hẻm khi trời tối là “Mê Lộ”, nghĩa là con đường mê.

Con đường Mê Lộ

Từ xưa đến nay, không một ai đi qua Mê Lộ mà có thể bình an trở về. Các bậc thánh tăng, đạo sỹ, chân nhân, hoặc là người có thần thông từng tiết lộ rằng: Ở Mê Lộ ấy, bắt đầu từ lúc nhá nhem tối cho đến khi trời tờ mờ sáng, khắp đường là những yêu nữ, yêu nam nhảy múa hát ca. Người đi đường nghe phải tiếng hát ấy, nhìn phải màn vũ đạo ấy, thì trong đầu sẽ xuất hiện một thứ ảo giác, khiến họ lạc vào không gian khác của Mê Lộ, rồi cứ loanh quanh luẩn quẩn mãi trong đó mà không thể tìm được lối ra. Họ sẽ ở đó suốt đời suốt kiếp, ngay cả khi trời sáng, thân nhân của họ đến con hẻm dưới chân núi để tìm cũng không thể tìm ra được.

Tất nhiên, Mê Lộ dẫu “mê” đến mấy thì vẫn có cách hóa giải. Các bậc cao nhân đã truyền lại một câu chú ngữ và chỉ dẫn cách phá mê. Thế nhưng ngàn đời nay, biết bao người liều lĩnh qua Mê Lộ, vẫn không một ai may mắn trở về.

Có người đến Mê Lộ vì không tin, vì chủ quan, hoặc là vì để chứng tỏ công phu thâm hậu. Lại có người đến vì tò mò, vì niềm tin ngây thơ rằng họ sẽ vượt qua mê ải. Nhưng cũng có người rơi vào tình huống bất đắc dĩ, không còn lựa chọn nào khác, họ buộc lòng phải nhắm mắt đưa chân, liều lĩnh dấn thân vào cửa tử. Và chàng trai trẻ Văn Bảo là một trong số ấy.

Ở Mê Lộ ấy, bắt đầu từ lúc nhá nhem tối cho đến khi trời tờ mờ sáng, khắp đường là những yêu nữ, yêu nam nhảy múa hát ca. (Ảnh: Fan of the world)

Liều mình dấn bước

Văn Bảo quê ở Thiên Thượng, tính tình phóng khoáng, từ nhỏ đã quen với cuộc sống ngao du sơn thủy. Thiên Thượng là vùng đồi núi, có rất nhiều hoa thơm cỏ lạ, lại có nhiều loài thảo dược có thể cải tử hoàn sinh mà không thể tìm thấy ở nơi đồng bằng như Thiên Thanh. Vậy nên, người dân ở Thiên Thanh vẫn thường phải sắc thuốc hái từ thảo dược trên núi Thiên Thượng mới có thể dứt trừ bạo bệnh.

Hôm ấy cũng như mọi ngày, Văn Bảo mang lá thuốc đến các tiệm đông y ở Thiên Thanh. Cậu đã làm công việc này suốt mười năm qua, và lần nào xong việc cũng về đến nhà trước khi mặt trời ngả bóng. Nhưng hôm nay có biết bao nhiêu việc không tên, nào là giúp đỡ bà cụ đi lạc trở về nhà, nào là cho một em nhỏ quá giang đến trường, nào là… Đến khi xong xuôi đâu đấy thì mặt trời đã chớm ngả về tây.

Người chủ tiệm thuốc thấy trời đã quá trưa, bèn khuyên Văn Bảo nghỉ lại qua đêm, đợi sáng hôm sau hãy về. Nhưng Văn Bảo trong lòng canh cánh không yên, cậu chỉ lo cha mẹ không thấy mình về, sẽ lo lắng đi tìm bất chấp đêm hôm, rồi ngộ nhỡ có xảy ra điều gì bất trắc…

Chủ tiệm thấy ý Văn Bảo đã quyết, đành phải tiễn cậu một đoạn đường rồi ân cần dặn dò rằng:

“Có điều này… nếu không nói bác sẽ không yên tâm. Đến chân núi, nếu thấy mặt trời sắp tắt thì cháu nên nghỉ lại đâu đó, đừng đi vào con hẻm ấy, chờ đến sáng hôm sau hẵng lên đường. Còn nếu chẳng may đi vào Mê Lộ, thì nhất định, nhất định…”.

Chủ tiệm nắm chặt hai bàn tay Văn Bảo và nhấn mạnh từng câu: “Cháu nhất định phải liên tục niệm câu chú ngữ ‘Đại Pháp hảo, Chân Thiện Nhẫn hảo’, và phải kiên trì đi đến hết con đường, không được dừng lại, cũng không được xuống xe. Dẫu nhìn thấy cảnh tượng gì thì đó thảy đều là ảo giác, đừng tin vào những gì mình thấy, mà chỉ thẳng tiến về phía trước. Bởi chỉ cần dừng lại một cái là cháu sẽ bị hãm trong đó mà không thể thoát ra được. Cháu nhớ nhé, chỉ tới khi có người nói với cháu rằng đây là thôn Bắc ở cổng thành Thiên Thượng, thì lúc ấy cháu mới thật sự ra khỏi Mê Lộ”.

Đừng tin vào những gì mình thấy, mà chỉ thẳng tiến về phía trước. Bởi chỉ cần dừng lại một cái là cháu sẽ bị hãm trong đó mà không thể thoát ra được.(Ảnh: Wallpaper Studio 10)

Văn Bảo cảm tạ rồi lên đường. Lúc này mới chớm giờ Mùi, nếu đường đi thuận lợi cậu vẫn có thể qua con hẻm trước khi tắt nắng. Nhưng không hiểu sao hôm nay trời bỗng nổi gió lớn, khiến từng vòng xe trở nên nặng nề, chậm chạp.

Và kìa, con hẻm đã hiện ra trước mắt. Từ con hẻm này có thể nhìn thấy cổng thành Thiên Thượng thấp thoáng trên sườn núi. Chỉ cần đi qua con hẻm này, thì quãng đường về nhà không còn xa nữa. Nhưng mặt trời cũng bắt đầu lặn xuống, những tia nắng yếu ớt vẫn đang ngập ngừng vương vấn trên sườn non. Nên dừng lại hay tiếp tục dấn bước? Nếu không phải vì cơn cuồng phong cản trở, thì rất nhanh thôi, Văn Bảo sẽ vượt qua con hẻm này. Nhưng mà…

Văn Bảo chợt nhớ đến đôi mắt âu lo của cha mẹ, cậu quyết định liều mình tiến bước.

“Đại Pháp hảo, Chân Thiện Nhẫn hảo. Đại Pháp hảo, Chân Thiện Nhẫn hảo…”, Văn Bảo vừa niệm chú ngữ, vừa nắm chặt ghi đông, hai chân tăng tốc nhanh nhất có thể. Con hẻm chỉ là một đoạn đường nhỏ dễ đi, nhưng lại là thông đạo duy nhất để lên núi. Lúc này mặt trời đã khuất bóng, chỉ để lại một đường vàng mờ ảo uốn lượn theo viền đồi.

‘Nhanh lên, nhanh nữa lên!’ – các nhành hoa và ngọn cỏ hai bên đường đồng thanh cổ vũ, ngay cả mấy con nhện giăng tơ trên vách đá cũng không dám chớp mắt, ai ai cũng dõi theo bóng hình chàng trai trẻ, cầu nguyện cho cậu sớm ra khỏi đoạn đường sinh tử này.

Đã được ⅔ đoạn đường rồi, nhưng mà… những hạt nắng cuối cùng đang biến mất, bóng tối bao trùm khắp không gian…

Những tia nắng cuối cùng còn hắt lại. (Ảnh: pandotrip.com)

Ảo giác

Và rồi, cảnh tượng hiện ra trước mắt giống hệt như những gì mà người ta vẫn đồn thổi. Trong bóng tối nhá nhem chập choạng, những yêu nam, yêu nữ bắt đầu nhảy múa. Chúng không tiến lại gần, cũng không tỏ ra đe dọa, mà chỉ đơn giản là say sưa trong vũ điệu nhẹ như lông hồng.

Nhờ có câu chú ngữ Văn Bảo mới có thể giữ tâm trí tỉnh táo, đồng thời khiến yêu ma không dám lại gần. Nhưng đôi mắt cậu giờ đã hoa lên, rồi tối sầm lại, cậu chỉ có thể cảm nhận đôi bàn tay vẫn đang nắm chặt ghi đông. Trong thứ ảo giác u mê ấy, cậu cảm giác như chiếc xe đang lao thẳng vào vách đá rồi cậu bị hắt văng xuống đất ‘bịch’ một cái. Mình vừa ngã khỏi xe rồi sao? Có bị thương tích gì không nhỉ? Liệu mình còn có thể đi được nữa hay không? Không, không phải, chỉ là ảo giác, chỉ là mê thôi, dẫu thế nào mình cũng phải đạp xe tiến lên!

Cứ như vậy, cậu đã trải qua hàng loạt những hình ảnh huyễn hoặc khác nhau. Nhưng miệng không ngừng niệm chú ngữ, chân không ngừng đạp xe, cuối cùng cậu đã vượt qua khỏi đoạn đường tăm tối ấy.

Soạt! Các yêu nữ, yêu nam đồng loạt biến mất, Văn Bảo lại có thể nhìn thấy ánh trăng dát bạc trên nền đường. Và kia rồi, cây gạo đầu thôn đã hiện ra rồi! Phù, thế là thoát nạn, quả là một kỳ tích! Văn Bảo đạp xe tiến vào thôn Bắc, chỉ cần đi hết thôn trang này là đến cổng thành Thiên Thượng, từ cổng thành đến nhà cậu chỉ còn vài bước chân!

Nhưng mà, sao hôm nay thôn Bắc lạ thế nhỉ, nhà ai cũng đóng cửa im ỉm, hay là người ta đi ngủ cả rồi? Cậu lái xe vào một cái ngõ nhỏ thông ra cổng thành. Hôm nay cái xóm này lạ thật, con cái nhà ai mà cứ thả rông ngoài đường thế này? Trong xóm, có hàng chục bé trai, bé gái vừa chạy nhảy nô đùa, vừa múa, vừa hát ca. Điệu múa này, tiếng hát này quen thật, không biết mình đã thấy ở đâu rồi nhỉ?

Văn Bảo bước vào con đường đầy u ám. (Ảnh: Emaze)

“Oái!”, Văn Bảo tránh vội chiếc xe khỏi lao vào một bé gái đang đứng múa giữa đường, khiến chiếc xe mất thăng bằng đâm thẳng vào bờ tường. Cậu nghĩ bụng, cứ thế này thì nguy hiểm quá, thôi thì xuống xe dắt bộ cho lành vậy.

Vừa lúc dừng xe lại thì cũng là lúc cậu đến đoạn đường cuối xóm. Nhưng mà…cuối con đường lại là một khu dân cư khác, chứ không phải là cổng thành như cậu vẫn nghĩ. Ở đây không khí ảm đạm, tang thương, người đi trên đường mặt mày ủ rũ, nhà nào nhà nấy đều tiêu điều xác xơ. Rẽ vào một ngõ nhỏ, thấy là đường cụt, lại rẽ sang ngõ khác, vẫn là đường cụt!

Lẽ nào, có lẽ nào…???

Từ trong ngõ nhỏ đi ra là một cô gái trạc tuổi Văn Bảo. Cô gái này, trước đây cậu đã từng gặp qua, nhưng hình như cô ấy mất tích đã lâu rồi, sao hôm nay lại xuất hiện ở đây? Dẫu sao, có người để hỏi đường là may mắn lắm rồi, Văn Bảo bèn chạy đến hỏi. “Không, đây không phải thôn Bắc!” – cô gái trả lời.

Văn Bảo thoáng rùng mình… Không phải thôn Bắc sao? Vậy đây là nơi nào? Lời ông chủ tiệm thuốc vẫn cứ văng vẳng bên tai: “Cháu nhớ nhé, chỉ tới khi có người nói với cháu rằng đây là thôn Bắc ở cổng thành Thiên Thượng, thì lúc ấy cháu mới thật sự ra khỏi Mê Lộ”.

Những túp nhà liêu xiêu, những khuôn mặt não nề, những đứa trẻ nô đùa múa hát… Đúng rồi, cậu nhớ ra rồi, điệu múa của chúng giống hệt như điệu múa của các yêu nữ, yêu nam… Có lẽ nào, suốt từ nãy tới giờ, hết thảy đều là ảo giác? Và thực tế là… cậu đã mắc kẹt trong Mê Lộ!

Văn Bảo khuỵu xuống, hai tay ôm chặt lấy đầu. Thôi, thế là hết! Đã rơi vào cõi mê, là coi như vĩnh viễn chôn vùi ở nơi đây, ta sẽ không bao giờ, không bao giờ có thể quay về được nữa.

Lần đầu tiên trong đời cậu mới hiểu thế nào là tuyệt vọng. Đó là thứ cảm giác cùng quẫn, tang thương, một nỗi bi ai không lời nào có thể diễn tả được. Giống như là, bạn biết mình đang ở trong cơn ác mộng, nhưng bạn lại không thể nào thoát ra được, không thể nào tỉnh dậy khỏi giấc mơ.

Văn Bảo khóc nấc lên từng tiếng. Cô gái trước mặt cũng nhìn cậu đầy xót xa. Những người trên đường nghe thấy tiếng khóc đều chạy lại. Không ai nói một lời, vì tất cả đều thấu hiểu cảm giác ấy, bởi họ đều là những nạn nhân của Mê Lộ này.

Văn Bảo nhắm mắt lại, hai tay áp lên ngực. Trong cơn tuyệt vọng tột cùng, cậu chẳng còn gì để bấu víu ngoài Phật Pháp. Cậu đọc to tất cả những câu kinh Phật mà ký ức mơ hồ của cậu còn sót lại. Những người khác thấy vậy, tất cả đều đồng loạt quỳ xuống và đồng thanh niệm Phật cùng Văn Bảo. Dẫu chỉ nhớ ra một câu, dẫu chỉ nhớ ra một từ thôi, họ vẫn niệm đi niệm lại như vậy. Khi rơi vào vực thẳm đường cùng, con người ta sẽ chới với cố hết sức bám lấy tất cả những gì họ có thể bám. Cho dù đó chỉ là một cọng cỏ, nhành cây, và cho dù họ biết rằng bám víu vào nhành cây cọng cỏ cũng chẳng thể giúp được gì, thì họ vẫn không bao giờ buông xuôi.

Chỉ cần con người thành tâm một lòng hướng Phật, con đường sẽ rộng mở. (Ảnh: Zing.vn )

Trên bầu trời cao vời vợi, vị cự Phật nhìn thấy những chúng sinh của mình đang lầm lạc trong mê, Ngài không khỏi thương cảm rỏ một giọt nước mắt từ bi. Giọt nước mắt rơi xuống, biến thành đại dương bao la vạn trượng. Rồi Ngài lại thả xuống một đóa sen, khải thị cho chúng sinh rằng thời gian sẽ thử thách lòng người, chỉ cần họ không mất đi Phật tính của mình, thì nhất định sẽ có ngày con thuyền Phật Pháp độ chúng sinh trở về.

Tu luyện là con đường duy nhất để trở về

Đã hàng ngàn năm, hàng ức vạn năm, cho đến hôm nay Văn Bảo và những người bạn của cậu vẫn còn ở trong Mê Lộ, mòn mỏi đợi đến ngày Thần Phật giáng hạ, độ họ thoát khỏi cõi mê. Nhưng vì phải luân hồi qua bao đời bao kiếp, mà không biết là đã bao kiếp bao đời, họ đã hoàn toàn quên mất nguyện ước năm xưa. Những con người lầm lạc ấy, vì giả tướng, vì ảo giác, và cũng là vì “mê”, họ dần dần tham luyến danh tình lợi, đắm chìm trong những thứ dục vọng tầm thường. Niềm tin vào Thần Phật thuở ban sơ, nay cũng bị coi là “cuồng tín”, là câu chuyện hoang đường.

Nhưng, thẳm sâu trong ký ức đã phủ một lớp bụi thời gian, vẫn là khao khát được hồi thiên. Thế nên, chỉ cần thời điểm đến, cơ duyên chín muồi, nhất định sẽ có người đến thức tỉnh họ, dẫn dắt họ đến gần hơn với Phật Pháp. Vì sao biết bao Giác Giả, biết bao vị Phật, Đạo, Thần đã hạ thế độ nhân? Đó là bởi chỉ có tu luyện mới là con đường duy nhất quay trở về…

Hồng Liên

Mùa Ðông đã tàn, khí trời dần dần ấm áp. Dưới ánh sánh bình minh, muôn cánh hoa đang vươn mình phô sắc. Trong thành Ba La Nại, tịnh xá Trúc Lâm kiến trúc trên một cánh đồi rộng rãi, cây cối um tùm tĩnh mịch dần dần hiện rõ trong đám sương mù.

Lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn đang an toạ trong tịnh xá Trúc Lâm, dùng đạo nhãn thấy dân chúng ở nước Rô-na-ba-răn-ta đang chịu nhiều điều thống khổ dưới quyền thống trị của nhà cầm quyền Kê Hoa Ðà người Bà La Môn giáo. Người ấy đã dùng thế lực sẵn có trong tay, ép buộc dân chúng phải tôn thờ Phạm Thiên và ngược đãi bắt bớ những người chống đối lại.

Trước hành động bạo ác và bất công ấy, Ðức Thế Tôn thương xót cho Kê Hoa Ðà, là một nhà trí thức mà hiện tại không có người hướng dẫn sáng suốt, tương lai không tránh khỏi ác báo trong ba đường.

Bấy giờ Ðức Thế Tôn thấy trong hàng đệ tử, chỉ có tôn giả Phú Lâu Na là người có thiện duyên với Kê Hoa Ðà và dân chúng xứ ấy nên sai đến đó để giáo hóa.

Ðức Thế Tôn biết rằng: Trên con đường truyền bá Chính Pháp, dẫn dắt người trở về con đường thiện lành, tôn giả Phú Lâu Na sẽ gặp nhiều trở ngại, thử thách.

Biết vậy, nên Ðức Thế Tôn gọi tôn giả Phú Lâu Na đến dạy rằng:

– Dân xứ ấy và Kê Hoa Ðà độc ác lắm, ta sợ ngươi không đủ can đảm để chịu đựng.

– Bạch Thế Tôn, con nguyện đem hết năng lực để làm tròn sứ mạng.

– Nếu đến đó bị chửi mắng, thì ngươi nghĩ sao?

Tôn giả Phú Lâu Na đáp lời Phật:

– Con nghĩ: Những lời chửi mắng kia cũng như những tặng phẩm. Nếu họ đem đến tặng cho con, con không nhận, họ sẽ mang về. Và con nghĩ rằng: Những người ấy còn hiền từ lắm, vì họ chỉ chửi mắng mà không nhấn con xuống nước.

– Nếu họ đem nhấn ngươi xuống nước?

– Con nghĩ rằng: Họ là những người tối dạ, và chỉ nhấn xuống nước mà không lấy đá ném vào đầu con.

(Ảnh: Wikipedia)

– Nếu họ dùng đá ném vào đầu ngươi?

– Con nghĩ rằng: Họ rất tốt vì chỉ lấy đá ném vào đầu mà không dùng gậy đập con.

– Nếu họ dùng gậy đập ngươi?

– Con nghĩ rằng: Họ rất hiền từ vì chỉ dùng gậy đập mà không giam cầm, ngăn cản bước đường truyền đạo của con.

– Nếu họ giam cầm ngươi?

– Con nghĩ rằng: Những người ấy rất tử tế, vì họ giúp con có thời gian tịnh dưỡng tinh thần để nung luyện thêm ý chí, mà không dùng gươm đâm chém con.

– Nếu họ lấy gươm đâm chém ngươi?

– Con nghĩ rằng: Họ rất tốt bụng, vì chỉ đâm chém mà không giết chết con.

– Nếu họ giết chết ngươi?

– Bạch Thế Tôn, con rất vui mừng, vì những người kia đã dùng tâm từ bi giúp cho con sớm thoát khỏi tấm thân giả tạm đau khổ này, để chóng thành quả vị Vô Thượng Giác.

Ðức Thế Tôn dạy: “Hay thay! Hay thay! Phú Lâu Na ngươi đã có một ý chí mạnh mẽ. Ngươi đã biết khinh thường thân mạng để phụng sự chân lý. Ngươi thật là một người đệ tử trung kiên của ta, đáng thay ta đến xứ ấy truyền bá Chánh Pháp, hướng mọi người trở về con đường sáng đầy an lạc và giải thoát.”

Tôn giả Phú Lâu Na đảnh lễ, vâng lời Phật dạy rồi từ giã lên đường sang xứ Rô-na-ba-răn-ta.

(Ảnh minh họa: Wikipedia)

***

Trải qua thời gian đằng đẵng, có biết bao nhiêu đấng Giác Ngộ đã giáng hạ phàm gian để cứu độ chúng sinh khỏi biển khổ, từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni của phương Đông đến Đức Chúa Giê-su của phương Tây. Ấy thế nhưng chúng sinh mê muội không nhận ra các Ngài, không ít lần Chính Pháp Chính Đạo bị coi là “tà giáo”, nhiều đấng Giác Ngộ phải chịu nhận bức hại. Chúa Giê-su đổ máu trên cây thập tự giá mà vẫn xót thương cho những người Do Thái đã bức tử mình, vì Ngài biết họ sẽ phải hoàn trả tội lỗi một cách thống khổ. Chỉ tới khi vật đổi sao dời, bức màn sự thật được vén tỏ, thì thế nhân mới bàng hoàng nhận ra tấm lòng từ bi vô lượng vô biên của Thần Phật.

Các bậc Giác Ngộ không có tâm oán hận, chỉ thương xót con người, từ bi với con người, không tiếc xả bỏ thân mạng để cứu độ con người. Nhưng quy luật thiện ác báo ứng thì nghiêm cẩn vô tình, con người trong mê lạc gây ra tội lỗi gì đều phải tự mình gánh chịu quả báo.

Rơi rớt xuống cõi trần gian, con người bị đôi mắt thịt che lấp nên khó nhìn ra chân tướng, lại bị các chủng các loại dục vọng mê hoặc dẫn dắt, cơ duyên tìm thấy con đường giải thoát thật quá mong manh. Khi một đấng Giác Ngộ giáng lâm, thường là khi đạo đức nhân tâm đã suy đồi, liệu khi ấy bạn có đủ tỉnh táo để nhận ra Ngài? Nếu bạn còn mải mê tìm kiếm danh lợi, thì cơ duyên quý báu sẽ trôi qua. Còn nếu bạn vô tri vô giác tiếp nhận lời lẽ tà, phỉ báng đấng Giác Ngộ, bức hại Ngài và đệ tử của Ngài, thì sẽ không sao rửa sạch tội lỗi. Để có thể nhận rõ đúng sai, phân biệt Chính – Tà, từ đó chọn cho mình tương lai tươi sáng, bạn hãy giữ cho mình tâm địa thiện lương nhé.

Thanh Ngọc (DKN.tv)

Ngày xưa có một ngôi chùa, trong chùa phân thành hai khu Đông và Tây riêng biệt. Phía trước phòng phía Đông có một con giun đất, ngày ngày sớm tối nghe kinh, thiên tính linh thông, mỗi sớm canh năm là giun đất cất tiếng kêu, trụ trì theo đó mà gọi chúng đệ tử dậy tụng kinh niệm Phật.

Trụ trì khu phòng phía Tây thấy các huynh đệ khu phía Đông mỗi ngày đều thức dậy lúc canh năm để bái Phật tụng Kinh nên gọi các đệ tử của mình lại mà trách mắng: “Sao mọi người không học các huynh đệ khu phòng phía Đông tu hành tinh tấn, canh năm mỗi ngày đều dậy bái Phật, tụng kinh mà cứ tham ăn, tham ngủ. Như vậy có còn là người tu luyện hay không?”.

Một hôm đệ tử khu phòng Tây đi hỏi đệ tử khu phòng Đông: “Các huynh bên này thật là tinh tấn, canh năm mỗi ngày đều dậy bái Phật, tụng kinh, mà các huynh làm sao để ngày nào cũng dậy sớm đúng giờ như vậy được? Tối cứ ham ngủ đến tận sáng bảnh vẫn chẳng biết mà dậy”.

Đệ tử khu phòng Đông đáp: “Trước đây chúng tôi người nào người nấy cũng rất ham ăn ham ngủ như các huynh đệ bên đó. Nhưng kể từ khi phía trước Pháp đường chúng tôi xuất hiện một con giun đất, trước nay không hề sai lệch, cứ canh năm mỗi ngày là cất tiếng kêu gọi. Sư phụ chúng tôi cứ nghe thấy tiếng giun kêu liền gọi chúng tôi dậy bái Phật tụng kinh”. Đệ tử khu phòng Tây nghe xong trong lòng dấy lên sự oán hận con giun đất.

Một hôm trụ trì đi vắng, đệ tự khu phòng Tây mới đun một nồi nước sôi, nhân lúc thầy trò khu phòng Đông vắng mặt liền khênh nồi nước qua đó đổ vào hang giun, giun chết vì bỏng. Ngày hôm sau, thầy trò khu phòng Đông không nghe thấy tiếng giun kêu, mọi người đi tìm, thấy giun đã chết nên vào bẩm với sư trụ trì. Trụ trì ra xem rồi đọc kinh siêu độ cho giun siêu thoát.

Giun được sư trụ trì siêu độ nên chuyển sinh được thân người, làm một tiều phu tốt bụng, hàng ngày vào rừng đốn củi kiếm sống qua ngày. Còn đệ tử khu phòng Tây vì phạm tội sát sinh, giết chết giun nên phúc phận tiêu trừ, chuyển sinh thành khỉ nhưng lại tín phụng Phật Pháp.

Một hôm tiều phu vào núi kiếm củi, thấy một ngôi chùa tan hoang, nóc chùa đã hỏng chỉ còn ba pho tượng Phật lộ thiên. Tiều phu sợ mưa gió làm hỏng tượng Phật nên về nhà mua đồ đến trùng tu, che lại mái chùa.

(Ảnh: Wikipedia)

Lại một lần khác, trên đường vào rừng kiếm củi, thấy bẩy vị tú tài muốn qua khe suối mà không thể qua được, tiều phu liền vội vàng bê bảy hòn đá kê dưới khe suối cho mọi người đi qua. Sơn Thần, Thổ Địa chứng kiến dâng sớ tấu lên thiên đình: “Trần gian có người tiều phu lương thiện, tu sửa điện Tam Bảo, làm cầu thất tinh, công to đại đức”.

Tiều phu mỗi ngày lên rừng đốn củi, luôn tiện tay hái hoa rừng vào dâng cúng Phật. Gần khu chùa hoang có một con khỉ, cũng ngày ngày cầm hoa mang đến dâng Phật, nó thấy trong bình có hoa liền lấy ra vứt đi rồi thay hoa của mình vào trong bình, sau đó rời đi.

Tiều phu sau khi kiếm củi quay về, thấy hoa mình cắm trong bình bị ai đó bỏ đi mà thay bằng hoa khác, trong lòng nghi hoặc: “Nơi rừng sâu, núi thẳm không có ai lai viếng, vậy hoa này ở đâu ra?”. Tiều phu đem củi về nhà, sáng sớm hôm sau quay lại trong núi, đem hoa mới thay vào bình xong xuôi ẩn vào một chỗ quan sát. Một lúc sau, tiều phu thấy một con khỉ tay cầm bó hoa đi đến, nó vào trong Phật đường đem hoa trong bình bỏ đi, rồi cắm hoa của nó vào.

Tiều phu chứng kiến mọi việc liền to tiếng quát, khỉ thấy vậy quay đầu bỏ chạy. Tiều phu đuổi theo, thấy khỉ chui vào một hốc đá nên lấy tảng đá lớn bịt lại. Khỉ kẹt không ra được nên chết vì đói bên trong. Đây cũng là vì nhân quả báo ứng của đời trước của hai người gây nên.

Về phần mình, sau này tiều phu trăm tuổi qua đời, thiên địa thấy tiều phu có công đại đức tu sửa chùa chiền, làm cầu giúp người nên cho chuyển sinh vào thời Lương quốc tên là Tiêu Diễn, chính là Lương Vũ Đế. Còn con khỉ năm xưa chuyển sinh đến Bắc Ngụy tên là Hầu Cảnh, sau thành tướng nhà Bắc Ngụy.

(Ảnh: Santabanta.com)

Lại nói về Lương Vũ Đế, tính tình lương thiện, tôn kính Phật Pháp, bái hòa thượng Chí Công làm sư phụ, vợ là Si Huy hoàng hậu cũng bái hòa thương Vân Công làm thầy. Một hôm hòa thượng Vân Công khai đàn thuyết Pháp, giảng kinh, Si Huy hoàng hậu mời Lương Vũ Đế đến nghe, Lương Vũ Đế lại mời hòa thượng Chí Công cùng đến nghe Pháp.

Hòa thượng Vân Công khi lên đàn giảng kinh thuyết Pháp lại uống rượu ăn thịt, hòa thượng Chí Công mới tiến đến hỏi: “Vân Công nay đã là thầy của Si Huy hoàng hậu, cần phải làm tấm gương mẫu mực đại biểu cho chúng tăng cả nước. Nay khai đàn giảng kinh, thuyết Pháp thì phải trai tịnh trang nghiêm, cớ sao lại còn uống rượu ăn thịt?”.

Hòa thượng Vân Công đáp: “Ta ăn thịt uống rượu cũng như không có ăn thịt uống rượu”.

Hòa thượng Chí Công nghe vậy nói: “Ta xem những việc ông đang làm cũng như không làm”.

Không lâu sau hòa thượng Vân Công bị bệnh qua đời, chuyển sinh thành một con bò, hòa thượng Chí Công biết chuyện mới nói với Lương Vũ Đế, Lương Vũ Đế không tin. Một hôm Lương Vũ Đế cùng hòa thượng Chí Công ra ngoài thành du sơn ngoạn thủy, thấy một nhóm người đang canh tác. Lại gần thấy một con bò hoa đang ở đó, hòa thượng Chí Công mới nói với Lương Vũ Đế: “Đây chính là Vân Công”.

Lương Vũ Đế: “Làm sao sư phụ biết?”.

Hòa thượng Chí Công: “Nếu điện hạ không tin, hãy gọi ba tiếng sẽ biết thực hư”.

Lương Vũ Đế liên tiếp gọi ba câu, con bò hoa lập tức quỳ bốn chân xuống, hai mắt rơi lệ. Hòa thượng Chí Công nói: “Ngày trước người đăng đàn thuyết Pháp, giảng kinh không những không trai giới thanh tịnh lại bao biện ăn thịt uống rượu cũng như không, nay chuyển sinh thành kiếp trâu bò cũng là quả báo của nhà ngươi”. Con bò nghe vậy liền đứng dậy lao đầu vào cột sắt bên cạnh chết ngay tức khắc. Lương Vũ Đế thấy vậy thất kinh nên làm bài kệ:

“Kiên trì tu hành độ chúng sanh
Mạo phạm khẩu nghiệp tội bất khinh.
Tửu nhục bất trừ đăng đài tọa
Vân Công thuyết pháp trụy ngưu thân”

Dịch:

Kiên trì tu đạo độ chúng sinh
Ngờ đâu khẩu nghiệp nặng khôn cùng.
Rượu thịt không bỏ đăng đài Pháp
Vân Công giảng Pháp đọa thân bò.

(Ảnh minh họa: Youtube)

Thấy được nghiệp báo của hòa thượng Vân Công, Lương Vũ Đế lại càng tin vào Phật Pháp. Tuy nhiên tính sống xa hoa vẫn chưa thể bỏ nên thường mời hòa thượng Chí Công đến dự tiệc ăn uống ca hát.

Hoà thượng Chí Công trong lòng không vui. Trong khi cung nữ ca múa nhộn nhịp, Lương Vũ Đế mới hỏi Chí Công hòa thượng: “Cung nữ biểu diễn có hay không?”.

Hòa thượng Chí Công: “Ta không biết”.

Lương Vũ Đế: “Cung nữ ca múa ngay trước mặt, tại sao lại không biết?”.

Hòa thượng Chí Công đáp: “Nếu điện hạ không tin, hãy mang ba phạm nhân trọng tội trong ngục ra đây, ta tự có đạo lý của mình”.

Lương Vũ Đế cho người đưa ba phạm nhân trọng tội đến quỳ trước mắt hòa thượng Chí Công.

Hòa thượng Chí Công nói: “Tội của ba người là tội chết, nay ta cho ba ngươi, mỗi người đội trên đầu một bát nước đầy quỳ ở đây. Đợi tí nữa cung nữ ca múa xong, nếu như nước không rơi vãi giọt nào, ta sẽ bẩm lên hoàng thượng xá tội chết cho các người hoàn lương về quê, còn nếu như vãi dù chỉ một giọt, tội như cũ mà thi hành”. Phạm nhân nghe xong theo đó mà làm, quỳ trước điện xem cung nữ ca hát.

Đợi lúc cung nữ ca hát vui vẻ nhất, hòa thượng Chí Công nói với Lương Vũ Đế: “Điện hạ hãy hỏi phạm nhân xem cung nữ ca múa có hay không?”.

Lương Vũ Đế hỏi phạm nhân: “Các ngươi thấy cung nữ ca múa thế nào, có hay không?”.

Ba người phạm nhân cùng nhau đáp: “Tội thần không biết”.

Lương Vũ Đế: “Cung nữ ca múa ngay trước mặt các ngươi, tại sao lại không biết?”.

Phạm nhân: “Tội thần chỉ để ý tới mạng sống của mình, còn tâm chí đâu mà để ý cung nữ ca múa có đẹp hay không?”.

Hòa thượng Chí Công: “Người tu hành cũng như vậy”. Lương Vũ Đế nghe xong bừng tỉnh, đại xá cho phạm nhân, phạm nhân được tha mừng rỡ, tạ ơn trở về.

Một hôm Lương Vũ Đế hỏi hòa thượng Chí Công: “Qủa nhân bố thí trai tăng, cúng dường chư Phật, năm dặm xây một miếu, mười lý xây một chùa, công đức có to không?”.

Hòa thượng Chí Công: “Không có chút công đức nào hết”.

Lương Vũ Đế: “Sư phụ nói kiếp trước quả nhân là một tiều phu, sửa nóc chùa, che ngôi Tam bảo, làm cầu thất tinh có công đức vô lượng. Nay quả nhân hưởng phước đế vương, dựng vô số miếu, xây vô số chùa cúng dường cho chư tăng ni, tại sao lại không có công đức?”.

Hòa thượng Chí Công: “Kiếp trước điện hạ là tiều phu, nhưng tấm lòng thiện lương tự nguyện xuất tâm tu chùa sửa miếu để che ngôi Tam Bảo, dùng sức mình làm cầu thất tinh nên có công đức. Nay điện hạ thân là bậc đế vương xây dựng chùa miếu đều là kêu gọi dân phu, phiền nhọc dân chúng, thực sự là không hề có công đức”.

Lương Vũ Đế nghe nói vậy thấy có lý, trong lòng chuyển ngộ nên ngày ngày yêu cầu sư phụ giảng kinh thuyết Pháp cho mình nghe, không màng đến giang sơn xã tắc. Si Huy hoàng hậu thấy Lương Vũ Đế không màng chính sự nên trong lòng không vui, từ đó phỉ báng Phật Pháp, bày mưu ép hòa thượng Chí Công phá giới. Si Huy hoàng hậu sai người mổ chó làm màn thầu giả mời hòa thượng Chí Công vào cung ăn, cố ý khiến hòa thượng Chí Công phá hoại Phật giới để có cớ sát hại.

(Ảnh: Stevero – Centerblog)

Hòa thượng Chí Công là người tu luyện lâu năm, sớm đã có công năng biết trước mọi việc nên nói với Lương Vũ Đế: “Si Huy hoàng hậu ngày mai sẽ mời ta vào cung nhằm lừa ta phạm Phật giới để kiếm cớ giết hại. Ta ở trong cung nếu có gì bất trắc sẽ đánh trống báo hiệu, điện hạ phải kịp thời đến đó cứu ta”, Lương Vũ Đế nhận lời.

Qủa nhiên sáng hôm sau, Si Huy hoàng hậu cho người mời hòa thượng Chí Công vào cung, ban màn thầu cho hòa thượng Chí Công ăn. Chí Công hòa thượng không ăn khiến cho Si Huy hoàng hậu nổi giận, kêu người giết. Hòa thượng Chí Công lập tức rút trống ra đánh rồi đem thức ăn đổ ra ngự hoa viên, trong đó toàn là những món thuộc trong giới Huân, hành, gừng, tỏi…

Lương Vũ Đế nghe tiếng trống đánh vội vàng chạy lại ứng cứu, Lương Vũ Đế mắng Si Huy hoàng hậu sau này sẽ gặp báo ứng. Si Huy hoàng hậu vì tội phỉ báng tăng nhân nên không lâu sau đó bị bệnh qua đời.

Sau khi Si Huy hoàng hậu chết, quỷ vô thường đến bắt đi gặp Diêm Vương, Diêm Vương nổi giận bắt giam vào địa ngục chịu khổ, biến thành người cổ nhỏ như kim, bụng to như thúng, không thể ăn uống, mụn nhọt khắp người, vô số ấu trùng đeo bám. Thống khổ triền miên không gì kể xiết. Sau một thời gian thì chuyển sinh thành loài rắn tiếp tục chịu đau đớn đọa đầy.

Sau khi hoàng hậu chết, mãi một thời gian dài Lương Vũ Đế không vào trong cung nữa. Một hôm Lương Vũ Đế vào thăm hậu cung, thấy trên lầu có tiếng động, ngẩng đầu lên nhìn thì thấy một con rắn đang ở trên Phượng lầu cất tiếng kêu: “Xin đến cứu thiếp”. Lương Vũ Đế nghe vậy thất kinh mới hỏi: “Ngươi là ai?”.

Con rắn trả lời: “Thiếp là Si Huy hoàng hậu, vì kiếp trước phỉ báng Phật Pháp, ám hại hòa thượng Chí Công lại sát sinh hại mệnh nên bây giờ gặp quả báo chuyển sinh thành rắn. Xin quân vương từ bi niệm tình phu thê xưa cũ, xin thỉnh mời Chí Công đại sư đại từ đại bi tụng kinh sám hối cho thần thiếp siêu thoát”.

Lương Vũ Đế nghe vậy nên nể tình xưa cũ, cho người chuẩn bị trai đàn thỉnh mời hòa thượng Chí Công đến giảng kinh thuyết Pháp.

Chí Công hòa thượng:

“Khuyên người thế gian đừng u mê.
Phỉ báng Phật Pháp tội sâu dày.
Nghiệp khổ vô biên,
Khó ngày hoàn trả.

Nghênh phong điểm lửa,
Tự đốt tâm thâm.
Ngậm máu phun trời,
Bờ môi tự bẩn.”

Lương Vũ Đế nghe xong trong lòng buồn bã, Chí Công hòa thượng thấy vậy liền tụng đọc “Đại Tạng Kinh” rồi viết kệ “Lương Hoàng Sám” mong nhờ Phật tổ từ bi xá tội siêu thoát.

Trong lúc hòa thượng Chí Công đang đăng đàn thì đột nhiên Lương Vũ Đế nhìn thấy một người đang bay ở đằng vân, miệng nói: “Thiếp là hoàng hậu biến thành rắn, cảm tạ đại ân của quân vương và ơn nhờ Pháp lực siêu độ của sư phụ, nay thiếp đã được thăng thiên”. Lương Vũ Đế chứng kiến mọi việc nên sau này càng thêm bội phần tinh tấn, ngày đêm khổ cực tu hành.

Một hôm Lương Vũ Đế hỏi hòa thượng Chí Công: “Đệ tử khi nào mới thành Đạo?”. Hòa thượng Chí Công không đáp mà dùng tay chỉ vào yết hầu, Lương Vũ Đế không hiểu hàm ý mới hỏi lại. Hòa thượng Chí Công nói: “Người ở đây vinh hoa phú quý khó bỏ, phải vào núi ẩn cư mới có thể đắc đạo thành Phật”.

Lương Vũ Đế nghe Chí Công hòa thượng nói vậy nên thu dọn hành trang đến thành Đài tu hành, tham đạo. Về phần hòa thượng Chí Công, biết được Lương Vũ Đế sắp phải chịu tội quả báo kiếp trước gây ra nên cũng cáo biệt mà đi.

(Ảnh minh họa: Youtube)

Sau khi Chí Công hòa thượng cáo biệt không lâu, bỗng một hôm tướng Hầu Cảnh của nước Ngụy đem quân đến bao vây thành Đài. Lương Vũ Đế bị bao vây bên trong, lương thực khô cạn, trong lúc nguy nan sắp chết lại sinh lòng thoái tâm tu Đạo, mất đi niềm tin vào Phật Pháp thì đột nhiên hòa thượng Chí Công xuất hiện trên không trung, cất cao tiếng gọi: “Đây chính là nghiệp báo nhân quả ba đời do mình gây nên, không được thoái tâm tu Đạo”.

Lương Vũ Đế nghe vậy nên vui vẻ, an nhiên chịu chết đói ở thành Đài, sau khi chết Lương Vũ Đế hóa thành thân Phật bay lên đài sen trên không trung:

“Do ta lúc đầu chẳng biết nhân quả mà tạo nghiệp, vốn dĩ cũng đều là người đồng căn, đồng phái. Nay ngươi vây thành lấy mạng ta, coi như ta trả cái nhân duyên cho ngươi ở thành Đài này”.

Hầu Cảnh nghe vậy đáp:

“Ta kẻ hồng trần nên nhân duyên chẳng rõ, không nhận đồng căn, cũng chẳng biết người đồng phái, Vũ Đế về trời, ta rút thu binh, nợ kia đoạn tuyệt”.

Nghe xong Lương Vũ Đế ngồi trên đài sen về trời, tu thành quả vị La Hán.

***

Bể khổ trần gian chính là cái nơi cho con người trả nợ, đền ơn. Có những chuyện hàng ngày chúng ta vẫn cứ ngỡ là ngẫu nhiên trùng hợp. Tuy nhiên trên thực tế đó lại là sự an bài của đấng tối cao mà ở đó, người tin thì tạo phúc làm lành, kẻ không tin thì đêm ngày tạo nghiệp.

Cộc sống vốn xoay vần, có người đến trả nợ đền ơn, thì cũng có những người đến để giúp ta trả món nợ đời. (Ảnh: Inattivo.info)

Cũng chỉ vì một chút nóng giận suy nghĩ mà người đệ tử khu phòng Tây phạm tội sát sinh để cuối cùng phải trăm năm uổng phí kiếp người, chuyển sinh thân khỉ chờ ngày trả nhân. Và cũng bởi u mê, luật trời không tỏ, tiều phu kia vác đá bịt hang, gây lầm lỗi đời sau hoàn trả, Vũ Đế kia bỏ mạng chốn thành Đài.

Trên đời vạn sự nếu cứ ân ân oán oán thì muôn đời không dứt, chỉ có sự độ lượng bao dung mới là cánh cửa giải thoát cho mọi lỗi lầm.

Nếu như đệ tử khu phòng Tây khi nghe được chuyện mà không sinh tâm tật đố, lấy đó làm vui, thêm phần tinh tấn thì giun kia nay được kiếp người, tăng kia nay được làm người thần tiên. Đây chẳng phải là vẹn cả đôi đường hay sao? Chúng ta đôi khi lại vì một phút u mê, xem thường ác nhỏ mà bỏ mặc lương tâm để sau cùng khi biết ra thì chuyện đã muộn rồi.

Thế gian có thay đổi, lòng người có chuyển hướng thì luật nhân quả muôn đời vẫn vậy, nhân nào quả ấy muôn đời luôn chuẩn xác, nhất là đối với những người bức hại Phật Pháp và người tu luyện như Si Huy hoàng hậu hay như tội bất kính như hòa thượng Vân Công thì lại càng phải chịu quả báo trầm luân không lối thoát.

Minh Vũ sưu tầm và biên dịch (DKN.tv)

Chữ “Nữ” (女) là chữ tượng hình, vẽ một người con gái mặt hơi nghiêng, hai tay chạm nhẹ vào eo bên trái, khẽ khụyu gối, nhún mình theo tư thế chào hỏi truyền thống, ngay ngắn, trang nghiêm, an hòa, khiêm nhường, trông rất mềm mại nhu mì. Chữ “An” – Bình an (安) chữ Hán viết gồm bộ “Miên” (宀) nghĩa là mái nhà, và chữ “Nữ”. Theo quan niệm truyền thống, khi người phụ nữ ở dưới mái nhà, làm tốt bổn phận của mình, gia đình sẽ An, mọi thứ sẽ thuận buồm xuôi gió. 

Cách để thuận là người phụ nữ hạ thấp bớt cái tôi của mình (tư thế nửa quỳ)

Chữ Nam (男) trên là bộ điền dưới là bộ lực, ngụ ý là người đàn ông có trách nhiệm kiếm tiền, trụ cột nuôi dưỡng gia đình. Nam chủ ngoại nữ chủ nội. Người phụ nữ lại được coi là nội tướng, chu toàn hết mọi sự trong gia đình. Cổ ngữ có câu: “Thê hiền phu an” (nghĩa là: có người vợ hiền thì người chồng mới có thể an tâm lập nghiệp) là có ý như vậy.

Khi người phụ nữ ở dưới mái nhà, làm tốt bổn phận của mình, gia đình sẽ An, mọi thứ sẽ thuận buồm xuôi gió. (Ảnh dẫn theo img2.news.zing.vn)

Tuy nhiên  ngày nay, phụ nữ cũng phải ra ngoài, nhà thiếu vắng người lo toan nội trợ, chăm sóc con cái, phụng dưỡng cha mẹ già, hoặc có lo cũng không xuể vì sức người có hạn, thời gian có hạn, lại phải làm thêm việc nặng là kiếm tiền – vốn lẽ ra là việc của đàn ông.

Dĩ nhiên, người đàn ông khi trở về nhà không còn như xưa, được người vợ dịu dàng ra chào đón, săn sóc, được kính trọng, được nghỉ ngơi, lắng dịu sau những bôn ba vất vả để tiếp tục kiếm tiền nuôi dưỡng gia đình. Người đàn ông thời nay mà về nhà lại đối mặt với nhiều đều phiền toái, vợ đi làm về thì cũng mệt mỏi, rồi bắt đầu phân chia việc nhà, đàn ông cũng dần trở thành phụ nữ, mất đi chí lớn, chỉ quanh quẩn với những chuyện trong gia đình.

Áp lực lên cả hai phía nhiều hơn. Người đàn ông không có nơi để lắng tâm nghỉ ngơi và được sự dịu dàng của người phụ nữ vỗ về, an ủi. Cả hai đều cần người còn lại xoa dịu chia sẻ nhưng thật không dễ vì hai người đều mệt nhoài, chỉ còn cố gắng kiềm chế không trút cơn giận lên nhau đã là thành công rồi. Đó cũng là nguyên nhân chính khiến nhà bất an, nhà không an thì xã hội cũng bất an.

“Kinh Dịch” miêu tả quy luật vận hành của vũ trụ, tư tưởng trung tâm cuối cùng quy về Âm Dương cân bằng. Người xưa luôn lấy Thiên đạo làm Nhân đạo. Đạo làm người cũng lấy Âm Dương cân bằng quy chiếu mới đạt đến sự hài hòa với Thiên lý.

Đạo vợ chồng lấy “Nam cương Nữ nhu”, “Nam tôn Nữ ti” làm chuẩn tắc đều có nội hàm đạo lý hòa hợp với Thiên Đạo ở trong đó.

Trong “Kinh Dịch Hệ Từ” có viết: “Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ. Ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ … càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ”. (Trời ở trên cao, Đất ở dưới thấp, càn khôn đã được định rõ vậy. Lấy tôn cao ti thấp định rõ, địa vị cao thấp ra sao đã sẵn ở vị trí đó rồi … Cung Càn tạo thành Nam, cung Khôn tạo thành Nữ).

Nam tôn: Làm một người đàn ông – muốn hợp với “Đạo”, nhất thiết phải giống như Trời. Cao vang công chính (ở địa thế trên cao, âm thanh vang rộng công bằng chính trực), tự cường bất tức (tự mình cố gắng mạnh mẽ không nghỉ)

Nữ ti: Làm một người phụ nữ, nếu muốn hợp với “Đạo”, nhất định phải giống như Đất, khiêm nhường, bao dung, chính là: Đất ở tại vị trí của cung Khôn, lấy đức dày mà chở vạn vật.

Như vậy, Nam tôn Nữ ti không có hàm ý trên dưới mà đề xướng hòa hợp của tự nhiên, âm dương đều có an bài vị trí của mình, là đạo hoà hợp của đất trời. Người hiện đại bị văn hoá tranh đấu đầu độc nên mới cho rằng văn hóa truyền thống trọng nam khinh nữ, vì thế mà bất phục, kêu gọi nữ giới phải ‘vùng lên’ chứng tỏ cái vị thế độc lập của mình.

Kỳ thực, “Nam tôn Nữ ti” chính là đạo lý nam nữ nên sống hài hòa như thế nào trong hôn nhân và đời người.

Người phụ nữ có thùy mị, nhu hòa thì người đàn ông mới toả sáng cái địa vị đại trương phu. Nếu người phụ nữ cũng mạnh mẽ như nam thì hình ảnh người nam còn chi là cương cường hảo hán. Người đàn ông khi tỏ được cái vị thế cường thịnh của mình thì chẳng phải chính là chỗ dựa vững chắc của người phụ nữ hay sao.

Hiểu cái lẽ ấy thì ai cũng giữ cho tròn cái đạo làm người trong vị thế của mình, dù là thời nào đi nữa thì nam giới cũng phải là người mạnh mẽ, cứng rắn, còn nữ giới phải ôn nhu, mềm mại, kín đáo thì mới phù hợp với Thiên đạo.

Người ta trong mê không ngộ, cứ muốn nữ phải bình đẳng như nam, kỳ thực cứ làm một người phụ nữ ôn hoà, nhu thuận khiêm cung thì đã có thể đắc được tất cả những gì nên có, đâu cần phải tranh đấu ngược xuôi.

Một người đàn ông phẩm cách cao thượng, người phụ nữ tự nhiên sẽ tôn trọng anh ta, thuận theo anh ta. Trong gia đình, nam nhân chính trực cao thượng, nữ nhân nhã nhặn khiêm hòa, khoan dung; thì gia đình không có một lý do nào của sự bất hòa.

Đó chính là cái đạo Tam tòng tứ đức vốn dĩ rất đẹp thời xưa.. Ngày nay, âm dương đảo ngược, âm thịnh dương suy… đều là biểu hiện của sự biến dị trái với Thiên lý.

Trong gia đình, nam nhân chính trực cao thượng, nữ nhân nhã nhặn khiêm hòa, khoan dung. (Ảnh dẫn theo batdongsan.com.vn)

Người phụ nữ trong văn hóa truyền thống chính là nhân duyên, phong thủy của gia đình

Người phụ nữ giống như nước, ở vào vật chứa hình vuông thì sẽ có hình vuông, vật chứa hình tròn thì sẽ là hình tròn, thích ứng với mọi hoàn cảnh, giàu nghèo, cao thấp, khiêm nhường, nhẫn nhịn ở nơi thấp nhất, nhưng tấm lòng bao dung mà chứa hết thảy vạn vật. Trăm sông vì thế mà chảy về biển. Người phụ nữ phải có “tính theo thiên lý”, “tâm theo đạo lý” và “thân theo tình lý” mới toả sáng được vị trí của mình và trợ giúp chồng khẳng định địa vị tôn quý của bậc đại trượng phu.

Thân theo tình lý”, ý rằng người phụ nữ ở nhà thì theo cha (mẹ), lấy chồng thì theo chồng, chồng mất thì theo con. Chính là đạo tam tòng của người xưa. “Vị giá tòng phụ, ký giá tòng phu, phu tử tòng tử” (Nôm na là ở nhà thì theo cha, xuất gia ‘lấy chồng’ thì theo chồng, chồng chết thì theo con trai). Chữ tòng (tùng) ở đây có nghĩa là tùy tùng, theo…

“Tâm theo đạo lý” là ý nói rằngngười phụ nữ trong gia đình phải sống có đạo, đạo làm vợ, với chồng thì thủy chung, son sắt, với cha mẹ chồng thì hiếu thảo kinh trọng, với chị em dâu thì hòa thuận, vui vẻ, với con cái thì mẫu mực, chăm sóc.

“Tính theo thiên lý” là lấy bản tính nguyên sơ trời ban cho người phụ nữ làm tính cách: dịu dàng, thiện lương, thuần khiết, thủy chung, người phụ nữ có phẩm hạnh như thế mới có đức dày để nâng đỡ mọi vật.

Người vợ mà không việc gì dám làm, việc gì cũng ỷ lại vào người chồng, ỷ lại vào cha mẹ được gọi là nhược phụ (người phụ nữ yếu kém). Người vợ như thế, “hết ăn lại nằm”, “oán trời trách đất”, quét sạch may mắn của gia đình.

Một gia đình có yên vui hay không, an tĩnh hay không, thịnh vượng phát đạt hay không thì sự ảnh hưởng của người vợ là vô cùng trọng yếu. Người phụ nữ có thể dưỡng tính như nước thì nhất định sẽ giúp chồng thành đức, gia đình viên mãn.

Người phụ nữ được ví là phong thủy, là phúc khí quyết định sự thịnh suy của một gia đình. Mỗi người phụ nữ có một cá tính khác nhau, có người ôn nhu hiền hòa, có người lại mạnh mẽ hoạt bát. Nhưng cho dù là cá tính gì thì người phụ nữ cũng không thể thiếu khí chất. Phụ nữ một khi thiếu khí chất thì tựa như một bông hoa hữu sắc vô hương.

Xã hội hiện đại đề cao nữ quyền ngày nay không ngưng tuyên truyền giải phóng tình dục, cho rằng nhu mềm là yếu nhược, mạnh ức hiếp yếu, khôn thì sống mà dại thì chết, cho rằng phụ nữ có thể gánh được nửa bầu trời… khiến cho các gia đình càng ngày càng sóng gió, bất hòa.

Trưởng Tôn Hoàng Hậu – người vợ hiền hậu nhân đức

“Trong nhà có người vợ hiền lương, giống như quốc gia có vị tể tướng tài đức”. Những người vợ hiền hậu trong lịch sử, vợ của Đường Thái Tông Lý Thế Dân – Trưởng Tôn Hoàng Hậu chiếm vị trí đầu tiên về làm việc nhân đức không chểnh mảng.

(Ảnh dẫn theo tinhhoa.net)

Trưởng Tôn Vô Kỵ là anh trai của Trưởng Tôn Hoàng Hậu, là bạn tri kỷ với Lý Thế Dân, giúp đỡ Lý Thế Dân thắng lợi lấy được thiên hạ. Đường Thái Tông muốn để cho Trưởng Tôn Vô Kỵ nhậm chức Tể Tướng, Trưởng Tôn Hoàng Hậu lại bẩm tấu rằng: “Thiếp đã được lập làm Hoàng Hậu, tôn quý vô cùng, thiếp thực sự không muốn để huynh đệ con cháu của mình phân bố đưa vào hàng ngũ triều đình. Lữ Hậu của Hán Triều, bỗng nhiên cả gia đình được vinh quang, có thể thấy bài học lịch sử mà làm tấm gương cho mình. Vì vậy, thiếp xin bệ hạ nhất định đừng để huynh trưởng ca ca nhậm chức tể tướng”.

Dưới sự nhún nhường ba lần của Trưởng Tôn Hoàng Hậu, Đường Thái Tông chỉ có thể để Trưởng Tôn Vô Kỵ đảm nhận một chức vị hư danh “Khai Phủ Nghi Đồng Tam Tư” như vậy.

Khi con gái của Trưởng Tôn Hoàng Hậu – Trưởng Nhạc Công Chúa xuất giá, Đường Thái Tông ban thưởng vật phẩm cho con gái nhiều hơn gấp đôi so với vật phẩm xuất giá của con gái Đường Cao Tổ – Trưởng Công Chúa. Chính vì điều này, Ngụy Trưng ở trước mặt Đường Thái Tông đề xuất ý kiến bất đồng.

Trưởng Tôn Hoàng Hậu sau khi biết được, không những không trách tội Ngụy Trưng, mà còn khen ngợi thêm nữa. Dưới sự lo liệu của Trưởng Tôn Hoàng Hậu, Trưởng Tôn Công Chúa đã không mang theo bất kỳ vật phẩm hồi môn phong hậu nào.

Trưởng Tôn Hoàng Hậu bình thường lời nói và việc làm, tuân thủ lễ chế, từ trước giờ không can dự sự việc chính trị triều đình. Nhưng bởi vì Trưởng Tôn Hoàng Hậu lời nói đoan chính ngay thẳng, Đường Thái Tông đối với vợ mười phân xem trọng, thường cùng với vợ đàm luận chuyện quốc gia đại sự, đề cập đến các vấn đề chi tiết thưởng phạt.

Trưởng Tôn Hoàng Hậu không muốn để bản thân mình đảm nhận thân phận đặc thù nào can dự vào chuyện quốc gia đại sự, bà cho rằng nam nữ là khác nhau, nên tự mình đảm nhận trách nhiệm chức vụ của riêng mình.

Bà không can dự triều chính, lại có thể luôn luôn có những lời khuyên can có lợi đối với Lý Thế Dân, giúp đỡ trượng phu xử lý tốt quan hệ vua tôi, bổ nhiệm quần thần chính trực mà xa rời nịnh thần.

Tể tướng Ngụy Trưng trực ngôn can gián, gặp phải Lý Thế Dân làm những sự việc không đúng, ngay lập tức dám bước ra khuyên can, có lúc làm cho Lý Thế Dân rơi vào tình huống khó xử. Một lần, Đường Thái Tông muốn đi ra ngoại thành săn bắn, vừa mới xuất cung ra khỏi cửa, gặp ngay Ngụy Trưng ở đối diện, Ngụy Trưng thăm hỏi hiểu rõ tình huống, lập tức nêu lên ý kiến thưa với Đường Thái Tông rằng: “Trước mắt hiện đang vào giữa tiết xuân, vạn vật nảy mầm sinh trường, cầm thú mớm mồi cho con trẻ, không thích hợp đi săn, thỉnh bệ hạ hãy hồi cung”.

Đường Thái Tông nhất quyết muốn đi, Ngụy Trưng không chịu thỏa hiệp, đứng ở giữa đường kiên quyết cản lối ra của Đường Thái Tông. Đường Thái Tông trong cơn tức giận không thể ngăn trở, nổi giận đùng đùng xuống ngựa quay về cung.

Đường Thái Tông quay về cung gặp Trưởng Tôn Hoàng Hậu, vẫn còn đang tức giận mà nói: “Nhất định phải đem lão già ngoan cố Ngụy Trưng giết chết đi, mới có thể trút hết cơn giận dữ của ta!”

Trưởng Tôn Hoàng Hậu hỏi rõ nguyên do sự tình, thì lặng lẽ quay vào nội thất mặc lễ phục đội mũ, sau đó nét mặt trang trọng đến trước Đường Thái Tông, khấu đầu hành lễ, miệng nói ngay: “Chúc mừng bệ hạ!“.

Hành động cư xử này của bà khiến Đường Thái Tông kinh ngạc hỏi: “Có việc gì lại thận trọng như vậy?”

Trưởng Tôn Hoàng Hậu trịnh trọng trang nghiêm nói: “Thiếp từng được nghe, nếu hoàng thượng anh minh, thì đại thần sẽ hết mực trung thành. Giống như hôm nay Bệ hạ thánh minh, nên Ngụy Trưng mới dám nói lời ngay thẳng như vậy. Thiếp thân là hoàng hậu, nhìn thấy hoàng đế anh minh thần tử trung thành, một việc tốt như vậy, thiếp làm sao dám không mặc triều phục để chúc mừng bệ hạ?”

Đường Thái Tông nghe thấy vợ mình nói lời như vậy, có phần cảm động thấu hiểu, giận dữ cũng từ từ tiêu tan đi.

Năm Trinh Quán thứ 8, khi Trưởng Tôn Hoàng Hậu cùng Đường Thái Tông đi Cửu Thành Cung tránh nắng, thân thể mắc bệnh đau ốm, bệnh tình lại càng ngày càng trầm trọng, đã dùng rất nhiều thuốc, mà bệnh vẫn không thuyên giảm. Lúc đó, Thái tử Lý Thừa Càn ở bên cạnh chăm sóc mẫu thân đã đề xuất dùng phương pháp đặc xá phạm nhân và độ người nhập Đạo v.v…, để cầu xin Thần Phật phù hộ, nhưng đều bị Hoàng Hậu kiên quyết từ chối.

Bà nói: “Đại xá là chuyện quốc gia đại sự, Phật, Đạo hai giáo đều tự có giáo quy. Nếu như có thể tùy tiện đặc xá tội nhân và độ người nhập Đạo, thì nhất định sẽ làm tổn hại đến chính thể của quốc gia, mà đây cũng là điều mà cha của con không muốn như vậy. Ta sao có thể để một vị phu nhân mà làm loạn Pháp lý của thiên hạ”.

Thái tử nghe xong, thì không dám đến gặp Thái Tông để thỉnh cầu. Thái Tông sau khi biết được, cảm động rơi lệ, khóc thầm không thành tiếng.

Vào năm Trinh Quán thứ 10, Trưởng Tôn Hoàng Hậu băng hà tạ thế tại điện Lập Chính, hưởng thọ 36 tuổi. Khi Trưởng Tôn Hoàng Hậu qua đời, Đường Thái Tông vô cùng đau khổ, cảm thấy từ bây giờ “mất đi 1 vị phò tá hiền lương!”.

Khi Đường Thái Tông tại vị, sáng suốt sửa đổi chính trị, kinh tế phồn vinh, trong lịch sử được gọi là “Thái bình Trinh Quán”. Cùng với ông có Trưởng Tôn Hoàng Hậu, một vị hiền thê phò trợ bên trong, nên nói là không thể không có quan hệ.

                                                                                                              ***

Trong «Nữ giới» sử học gia Huệ Ban viết:

“Đặc tính âm-dương hai bên là bất đồng, hành vi nam-nữ cũng có sự khác biệt. Dương tính lấy cương cường làm phẩm cách, âm tính lấy ôn nhu làm biểu trưng; nam nhân lấy cường tráng làm cao quý, nữ nhân lấy mềm yếu làm mỹ lệ”.

Khi xảy ra mâu thuẫn, người nữ đã thực sự lấy nhu thuận, cung kính làm lễ nghĩa hàng đầu chưa? Sự khiêm nhường đó là mỹ đức, phản ánh sự thông minh của nữ giới, lấy nhu thắng cương, tuyệt nhiên không phải một sự chịu nhục hay thua thiệt.

Nữ nhân cần rèn luyện tính cung kính là một điều rất trọng yếu, tránh quá cương cường mà mất đi vẻ nhu thuận. Do đó mới nói cung kính nhu thuận là lễ nghĩa đứng đầu của người phụ nữ.”

“Cung kính không đòi hỏi điều gì khác, chỉ cần kiên trì bền bỉ; nhu thuận không đòi hỏi điều gì khác, chỉ cần khoan dung nhẫn nại. Người trường kỳ gìn giữ sự cung kính sẽ biết có chừng mực, khoan dung với người khác, đã thiện lại cung kính.”

Khổng Tử đã đưa ra thuyết “Tam tòng, Tứ đức” với các chuẩn mực: Công- Dung- Ngôn- Hạnh, là các tiêu chuẩn cơ bản mà mỗi phụ nữ cần tu dưỡng, hoàn thiện mình. Trong đó “cung kính, nhu thuận” là lễ nghĩa đứng đầu của người phụ nữ. Vợ chồng lấy âm-dương hài hoà làm đạo lý, với nhau có thể “tương kính như tân”, ai cũng giữ đúng cái vị thế của mình trong sự hoà hợp với Thiên lý, có như vậy quan hệ phu thê mới hài hòa và mỹ mãn, gia đình không thể nào bất hoà.

Lam Thư

Qua bộ truyện “Tây Du Ký”, cái tên Tôn Ngộ Không đã ăn sâu vào tâm trí người đọc. Tuy nhiên, thân thế, nguồn gốc của Ngộ Không vẫn luôn là điều khiến nhiều người băn khoăn. Có người nói Ngộ Không là người Cam Túc (Trung Quốc), lại có người bảo Ngộ Không là người Ấn Độ.  

Cao tăng Đại Đường “Thích Ngộ Không”

Tìm trong sử sách, quả đúng là có một người tên là Ngộ Không. Thích Ngộ Không (731 – 812), tên tục là Xa Phụng Triều, người quận Kinh Triệu huyện Vân Dương. Ông là một hậu duệ xa, có liên quan tới Thác Bạt Thị (bộ lạc sau này đã gây dựng nên triều Bắc Ngụy, thống nhất toàn miền bắc Trung Hoa). Ngộ Không từ nhỏ tư chất thông minh, yêu thích Nho học, là người nổi tiếng hiếu kính và biết cách đối nhân xử thế trong thôn.

Vào năm 751, Ngộ Không theo Trương Quang Thao đi sứ tới Tây Vực, do mắc trọng bệnh nên phải ở lại nước Kiền Đà La (nay là địa phận Peshawar, Pakistan) để dưỡng bệnh mà không thể trở về kinh đô. Trong lúc lâm bệnh nặng, Ngộ Không đã phát nguyện: “Nếu có thể khỏi bệnh nguyện sẽ xuống tóc đi tu”.

Lúc đó Phật Pháp ở đây rất hưng thịnh. Do vậy, sau khi khỏi bệnh, Ngộ Không đi tu, mãi tới năm 789 mới quay trở về kinh thành. Thích Ngộ Không sinh ra muộn hơn so với nhà sư Đường Huyền Trang 40 năm. Tuy nhiên, địa điểm mà cả hai người bắt đầu xuất cảnh cũng chính là từ thành Trường An (tức Tây An ngày nay).

Tranh Tôn Ngộ Không trong một đền thờ Ấn Độ.

Sau khi trở về từ Tây Vực, Ngộ Không bắt đầu biên dịch kinh thư và tham gia vào các hoạt động truyền giáo trong nhiều năm, đồng thời để lại nhiều sự tích và truyền thuyết. Một số học giả tin rằng hành trình của Đường Tam Tạng và Tôn Ngộ Không đã được trộn lẫn vào nhau để tạo nên câu chuyện “thỉnh kinh” đầy thăng trầm suốt nhiều năm.

Năm 757, Ngộ Không nhận pháp sư Tam Tạng làm sư phụ, lấy pháp hiệu là Đạt Ma Đà Đô. Một số thuyết cho rằng, người ta đã đem cái tên Thích Ngộ Không trộn lẫn với cái tên “Hầu Hành Giả”, người luôn ở bên cạnh Đường Tăng trong câu chuyện lấy kinh rồi liên hệ lẫn nhau. Dần dần, hình tượng Tôn Ngộ Không trở nên phổ biến và được thừa nhận rộng rãi.

Viên đá “Thạch Bàn Đà”

Giáo sư Trương Cẩm Trì khoa tiếng Trung thuộc trường Đại học sư phạm Cáp Nhĩ Tân, đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu về câu chuyện Đường Tăng thỉnh kinh được lưu truyền cũng đưa ra một số kiến giải của riêng mình.

Theo ông, khi Huyền Trang sang Tây phương thỉnh kinh, gặp lúc nguy nan đã thu nạp một đệ tử người Hồ tên gọi Thạch Bàn Đà. Đây được cho là nguyên mẫu thực tế của Tôn Ngộ Không trong “Tam Tạng Pháp Sư truyện”. Qua phân tích, giáo sư Trương phát hiện ra một mối liên hệ rất mật thiết giữa Tôn Ngộ Không, Đường Tăng, Thạch Bàn Đà, đó là:

1. Họ đều có thể giải quyết nguy nan;

2. Họ đều có thân phận hành giả như nhau;

3. Mối quan hệ của họ giống như giữa sư phụ và đệ tử;

4. Thạch Bàn Đà chính là Hồ Tăng. Hồ Tăng với Hồ Tôn lại có cách phát âm tương tự nhau. Do đó, câu chuyện “Đường Tăng thỉnh kinh, Hồ Tăng phò tá” có thể dễ dàng truyền thành “Đường Tăng thỉnh kinh, Hồ Tôn phò tá”. Từ đó xuất hiện nhiều câu chuyện truyền kỳ về Tôn Ngộ Không cùng Đường Tăng sang Tây phương bái Phật, cầu kinh.

Tôn Đại Thánh 

Trong “Tây Du Ký”, Tôn Ngộ Không với đại danh lừng lẫy “Tề thiên đại thánh”, đản sinh từ một hòn đá tiên nằm trên đỉnh núi Hoa Quả Sơn thuộc Đông Thắng Thần Châu, nước Ngạo Lai. Như vậy, thân thế nguyên gốc của Ngộ Không trong “Tây Du Ký” có thể kiểm tra rõ ràng.

Gần đây, các chuyên gia lại phát hiện một bức bích họa về câu chuyện “Đường tăng thỉnh kinh” tại hang đá Du Lâm, tỉnh Cam Túc. Trong bức bích họa đó vẽ một người Hồ có quai hàm khỉ, môi nhọn luôn theo sát Đường Tăng trên đường. Đó được coi là nguyên mẫu của Tôn Ngộ Không.

Một phần của bức bích họa trong hang đá “Đường tăng thỉnh kinh đồ” tại hang đá Du Lâm tỉnh Cam Túc.

Trong bài viết của mình, ông Đoàn Văn Kiệt, viện trưởng danh dự của Viện nghiên cứu Đôn Hoàng đã từng chỉ ra rằng, người khỉ được tìm thấy trong bức bích họa chính là hình tượng nguyên mẫu của Tôn Ngộ Không. Người này tên là Thạch Bàn Đà, quê tại thành phố Tỏa Dương – huyện An Tây – tỉnh Cam Túc hiện nay. Vì vậy Tôn Ngộ Không hẳn phải là người Cam Túc.

Như vậy, có thể nói thân thế thực sự của Tôn Ngộ Không đến nay vẫn còn là một ẩn đố chưa tìm ra lời giải chính xác. Dù vậy, đối với những độc giả say mê “Tây Du Ký” và câu chuyện thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng, điều đó cũng không hề quan trọng.

Hành trình 10 vạn 8 nghìn dặm của thầy trò Tam Tạng từ Trung Thổ sang Tây phương thỉnh kinh với biết bao thăng trầm, ma nạn, về một khía cạnh nào đó, cũng chính là con đường tu dưỡng của đời người ta. Nếu muốn tiến về hạnh phúc viên mãn, người ta chắc chắn phải kinh qua nhiều khổ nạn, nhọc nhằn.

Và muốn đi thật tốt con đường ấy, chắc chắn bạn phải có một Tôn Ngộ Không “mắt lửa ngươi vàng”, ý chí dũng mãnh, trừ yêu diệt quái, cũng chính là phải có được một tinh thần quật cường, ý chí kiên định để đi đến chót cuộc hành trình núi đao biển lửa ấy vậy.

Theo NTDTV
Bình Nhi biên dịch

Tôn Quyền từng đánh bại Tào Tháo ở Ô Lâm và chiến thắng Lưu Bị ở Tây Lăng, lại từng bắt giữ Quan Vũ ở Kinh Châu. Ông được người đời ca ngợi là thần võ anh hào, và được tôn xưng là “Hùng lược chi chủ” (người chủ tài năng, thao lược). 

Hoàng Long năm đầu tiên (năm 229), Tôn Quyền xưng đế ở Vũ Xương, lấy quốc hiệu là Ngô, cùng với Tào Tháo và Lưu Bị tạo ra thế Tam quốc đỉnh lập. Bởi vì nước Ngô ở phía đông vì vậy được gọi là “Đông Ngô”.

Tôn Quyền và Khương Tăng Hội

Tôn Quyền từng đánh bại Tào Tháo ở Ô Lâm và chiến thắng Lưu Bị ở Tây Lăng, lại từng bắt giữ Quan Vũ ở Kinh Châu. Nếu không phải là thần võ anh hào, thì sao có tôn xưng là “Hùng lược chi chủ”? Tôn Quyền mặc dù hơn nửa đời người đều ở trên lưng ngựa, chinh chiến sa trường, nhưng lại là người có tấm lòng nhân hậu, vừa có học vấn lại tôn trọng phẩm đức cao thượng. Những anh hùng có tiếng trong giang hồ đều quy phục ông.

Dưới sự cai trị của Tôn Quyền, bách tính sĩ tộc nhà Ngô bắt đầu học tập Phật Pháp, tuy nhiên mức độ hiểu biết chưa được thâm sâu. Xích Ô năm thứ mười (năm 247), có một vị cao tăng tên là Khương Tăng Hội từ Giao Chỉ (tức Việt Nam hiện tại) đến kinh đô của Đông Ngô, xây dựng chùa miếu nhỏ, chế tạo tượng Phật, giảng dạy Phật pháp cho người dân bản địa. Sau này, người ta coi Khương Tăng Hội là thiền sư đầu tiên được ghi chép trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và là ông tổ của Thiền tông Việt Nam.

Một vị cao tăng tên là Khương Tăng Hội từ Giao Chỉ (tức Việt Nam hiện tại) đến kinh đô của Đông Ngô, xây dựng chùa miếu nhỏ, chế tạo tượng Phật, giảng dạy Phật pháp cho người dân bản địa. (Ảnh: dkn.tv)

Khương Tăng Hội có tướng mạo đặc thù, quần áo cũng khác hẳn so với người thời ấy. Sau khi vị này đến Đông Ngô, tự xưng là sa môn, người dân cảm thấy có điều khả nghi, vì vậy chuyện này cuối cùng được bẩm báo lên Tôn Quyền. Sau khi nghe xong, Tôn Quyền nói: “Trong quá khứ, Hán Minh Đế từng nằm mộng thấy Hoàng Kim Đại Thần, danh xưng là Phật Đà. Người này hành động kỳ lạ, phải chăng cùng Phật Đà có mối quan hệ gì đây?”.

Tôn Quyền là “hùng lược chi chủ”, có kiến thức rộng rãi, mặc dù chưa gặp qua Khương Tăng Hội nhưng đã đoán được rằng người này có mối quan hệ với Phật Đà. Tôn Quyền sinh ra đã thông minh, trí tuệ, theo như sử sách ghi chép, khi mẫu thân của Tôn Quyền là Ngô phu nhân mang thai Tôn Sách, bà đã mơ thấy mặt trăng bay vào trong bụng. Còn khi mang thai Tôn Quyền bà lại mơ thấy mặt trời rơi vào trong bụng. Khi nghe phu nhân kể lại, Tôn Kiên đã vô cùng vui mừng, lúc đó ông nói: “Nhật nguyệt là tinh hoa của âm dương, điều này tượng trưng cho phú quý vô tận”. Khi Tôn Quyền được sinh ra, đôi mắt mang theo tinh hoa của ánh sáng, sau khi lớn lên hình tượng càng thêm kỳ vĩ.

Trong thời kỳ đầu của Tam Quốc, kinh pháp Phật gia còn chưa truyền nhập vào Đông Ngô, tuy nhiên đối với những gì chưa được biết đến, Tôn Quyền vẫn giữ thái độ tôn trọng.

Gia Hòa năm thứ hai (năm 237), Tôn Quyền nhìn thấy “Xích Ô tập ư điện tiền” (Xích Ô tập trung trước điện), nghĩ đến thời xưa có tập thư “Xích Ô Hàm Đan” do hai vị Chu Xã Vương và Chu Văn Vương ứng vận mà sinh ra, vì vậy Xích Ô được xem như tượng trưng cho cát tường. Tôn Quyền chính mắt nhìn thấy Xích Ô trước điện, liền truyền lệnh xuống thay đổi niên hiệu là “Xích Ô”.

Tôn Quyền gặp gỡ vị cao tăng khác người

Huyện Lâm Hải, La Dương có một người tên gọi Vương Biểu, sở hữu một dị thuật thần kỳ. Thái Nguyên năm đầu tiên (năm 251), sau khi Tôn Quyền biết tin, ông đã phái Phụ Quốc tướng quân và La Dương Vương Lý Sùng đi đến mời đón Vương Biểu. Sau khi Vương Biểu đến, Tôn Quyền cũng giúp người này bố trí nơi ở bên ngoài Thương Long Môn, còn nhiều lần phái người ban thưởng rượu và món ăn ngon.

Vì vậy, khi Tôn Quyền nghe nói có vị cao tăng ngoại vực đến, đầu tiên ông nghĩ người này chắc chắn khác hẳn so với người thường, liền triệu kiến Khương Tăng Hội. Tôn Quyền hỏi Khương Tăng Hội rằng Phật Pháp mà cao tăng truyền dạy linh nghiệm như thế nào? Khương Tăng Hội đáp: “Từ khi Phật tổ niết bàn cho đến nay đã qua hơn ngàn năm, lúc bấy giờ di cốt của Ngài hóa thành Xá Lợi và Quang Hải Đoạt Mục. A Mục Vương đã thu thập và vì bảo quản Xá Lợi nên cho xây dựng Bát Vạn Tứ Thiên Tọa Phật Tháp. Vì muốn hoằng dương Phập pháp của Phật tổ, mà hậu thế cũng tu kiến Phật Tháp”.

Khương Tăng Hội cầu được Xá Lợi

Tôn Quyền nói rằng: “Nếu như ngài có thể cầu được Xá Lợi, thì ta sẽ mời người đến xây dựng Phật Tháp cho Xá Lợi của ngài. Nếu như ngài chỉ là yêu ngôn hoặc chúng, thì phải chịu xử phạt theo luật lệ Đông Ngô”.

Khương Tăng Hội xin bảy ngày làm giới hạn, cao tăng và đồ đệ cùng nhau tắm rửa thay đồ, đặt một chiếc bình đồng trên án, cùng nhau ngồi thiền, thành tâm cầu nguyện, đốt hương bái lễ cầu Xá Lợi. Tuy nhiên, bảy ngày đã qua, bình đồng vẫn không có động tĩnh gì. Khương Tăng Hội xin thêm bảy ngày nhưng kết quả vẫn như vậy. Khương Tăng Hội lại xin thêm bảy ngày, lúc này Tôn Quyền vô cùng tức giận: “Nếu việc này là lừa gạt vậy thì tội càng thêm tội, tăng thêm hình phạt”.

Cao tăng và đồ đệ cùng nhau tắm rửa thay đồ, đặt một chiếc bình đồng trên án, cùng nhau ngồi thiền, thành tâm cầu nguyện, đốt hương bái lễ cầu Xá Lợi. (Ảnh minhh họa: pinterest.com)

Tất nhiên việc cầu Xá Lợi không hề dễ dàng như dời củi chuyển nước. Cũng có thể do đệ tử của Khương Tăng Hội sợ hãi trước uy thế của Tôn Quyền nên không có cách nào tĩnh tâm mà cầu nguyện. Khương Tăng Hội nói với các đệ tử rằng: “Phật Đà từ bi sẽ luôn linh nghiệm, nhưng chúng ta lại không thể cảm động đến Thần Phật, thì cần gì phải chịu đến hình phạt của quốc vương? Việc này quyết thề chết làm kỳ hạn, nếu như vẫn không thể cầu được Xá Lợi, vậy thì chúng ta hãy tự thỉ cầu được ban chết”.

Khi thời gian bảy ngày lần thứ ba hết hạn, chúng đệ tử vẫn không nhìn thấy Xá Lợi nên vô cùng sợ hãi. Nhưng đến canh năm, mọi người nghe thấy âm thanh thanh thúy phát ra từ trong bình đồng. Sau khi mở nắp bình đồng quả nhiên là Xá Lợi do Đức Phật ban tặng.

Khương Tăng Hội mang theo Xá Lợi tiến vào cung điện, Xá Lợi đột nhiên phát ra ánh sáng năm màu rực rỡ. Những người ở Đông Ngô chưa từng nhìn thấy cảnh tượng kỳ dị này, cho nên bị dọa liên tục lui về phía sau. Tôn Quyền chính tay tiếp nhận bình đồng, đổ Xá Lợi ra một chiếc mâm đồng, không ngờ Xá Lợi làm cho mâm đồng nát vụn, Tôn Quyền cả kinh, hưng phấn vui mừng nói: “Thật sự là vật lành hiếm có”.

Ngọn lửa Xá Lợi hừng hực muốn đốt cháy cả đại điện, ngay cả trụ kim cương cũng muốn vụn nát. Tôn Quyền cũng bị dọa đến, lập tức hạ lệnh xây một Phật Tháp cho Xá Lợi. Cũng bắt đầu từ đây, Đông Ngô có Phật tự, tên gọi là “Kiến Sơ Tự”.

Tôn Hạo phái Trương Dục đến tìm Khương Tăng Hội bàn luận

Sau khi cháu trai của Tôn Quyền là Tôn Hạo kế vị, người này hành vi bạo ngược, pháp lệnh nghiêm khắc. Hắn hạ lệnh phế bỏ mọi nơi thờ cúng (cúng tế), bao gồm cả việc thờ phụng Phật, hắn từng nói với thần tử rằng nếu Phật Pháp và trung sĩ Thánh nhân trong điển tích tương hợp, thì sẽ cho phép Phật Pháp tồn tại, còn nếu không thì phá hủy tận gốc Phật tự. Có vị đại thần đứng ra khuyên giải hắn: “Uy lực của Phật và các vị Thần khác không hề giống nhau. Ban đầu Khương Tăng Hội dựa vào tinh thần thành thực cảm động được Phật ban cho Xá Lợi, đại đế mới bắt đầu xây dựng Phật tự. Cho nên bây không thể phá hủy Phật tự”.

Tôn Hạo liền phái Trương Dục vốn là người có tài ăn nói nhất trong triều đi tìm Khương Tăng Hội bàn luận. Trương Dục mặc dù lanh mồm lợi mép, tư duy nhanh nhẹn, nhưng Khương Tăng Hội lại là người có mạch suy nghĩ như một mũi tên sắc bén, đem Trương Dục ra chất vấn dồn dập. Cuối cùng Trương Dục đuối lý lẽ chỉ có thể cáo lui. Ở cổng lớn của Phật tự, Trương Dục nhìn dâm tự bên cạnh Phật tự, cười lạnh lùng nói: “Phật Pháp đã khai truyền, tại sao người ở gần khuôn viên Phật tự như thế lại không thể cảm hóa?”.

Khương Tăng Hội là người có mạch suy nghĩ như một mũi tên sắc bén, đem Trương Dục ra chất vấn dồn dập. (Ảnh minh họa: youtube.com)

Khương Tăng Hội đáp: “Ngàn vạn sấm sét có thể phá hủy một ngọn núi nhưng người điếc lại không nghe thấy, lẽ nào là vì tiếng sấm quá nhỏ ư? Nếu người có thể thông đạt đạo lý này, thì dù tương cách vạn dặm tâm cũng sẽ cảm nhận được, nếu tự thân ngu muội u mê, thì có ở gần vài dặm cũng như xa tựa chân trời”.

Tôn Hạo bất kính với Phật phải nhận lấy kết quả toàn thân sưng phù

Khương Tăng Hội tài trí đã đạt đến mức cao siêu, không phải phàm phu tục tử có thể đạt đến được. Tôn Hạo nhìn thấy sự thất bại của Trương Dục mới chấp thuận lưu lại điển tịch nhà Phật và các tự viện. Tuy nhiên từ trong lòng đã đa nghi tàn bạo, bất kính với Thần Phật. Có một lần khi hộ vệ của hắn từ trong hoa viên tìm được một tượng Phật cao hơn vài thước, Tôn Hạo liền ra lệnh đặt tượng Phật ở một nơi bẩn thỉu, dùng nước phân tưới lên, hắn và quần thần ở một bên xem lấy làm vui vẻ. Thế nhưng không bao lâu sau toàn thân của Tôn Hạo đều xưng phù, miệng kêu lên những tiếng than vãn đau xé tâm can.

Thái sử Chiêm Bộc nói: “Đây là vì mạo phạm đến Đại Thần”. Lúc đó Tôn Hạo ôm lấy chân tượng Phật, hạ lệnh cúng tế các vị Thần trong miếu. Phàm là những vị mà hắn cho là Đại Thần đều cúng tế qua một vòng nhưng không có ích gì. Có một cung nữ nói rằng Phật cũng là Đại Thần, nàng khuyên Tôn Hạo nên đến cầu xin Phật trong Phật tự.

Lúc bấy giờ, trong lòng Tôn Hạo mới tỉnh ngộ, thì ra Phật cũng là Đại Thần. Sau khi cung nữ dùng nước thơm rửa sạch tượng Phật mấy chục lần, rồi đưa tượng Phật đến đại điện, đối diện với tượng Phật đốt hương ăn năn hối cải, ngay cả Tôn Hạo cũng khấu đầu bái lạy tạ tội. Kết quả những cơn đau đớn mãnh liệt đều chấm dứt.

Khương Tăng Hội cống hiến hết sức lực của mình, đưa Phật pháp truyền vào Đông Ngô, giảng dạy cho chúng sinh, dùng chính trí huệ của Phật tử để bảo vệ duy trì Phật Pháp, ngoài ra còn cố hết sức dịch thuật các bộ kinh điển của nhà Phật. Trong quá trình này ông không ngừng chứng kiến những điều thần kỳ, lưu lại sử sách, truyền kỳ cho đến ngày nay. Cho dù đã cách ngàn năm thời gian nhưng vẫn có tác dụng khiến cho con người cảm thấu và lĩnh ngộ.

(Tham khảo “Tam Quốc Chí. Ngô Thư. Ngô Chủ Truyện”, “Cao Tăng Truyện”, “Thái Bình Quảng Ký” và “Sưu Thần Ký”)

Theo Secretchina
Khải Phong biên dịch

“Chúng em tới trước mặt một người vừa trắng vừa mập có cái bụng rất to đang bị buộc trên cột thì vừa lúc đó có một tên ác quỷ với cái đầu dài và nhọn hoắt nhe răng đi tới tay cầm một con dao nhọn”. 

Chú Ba tôi là một công nhân đã nghỉ hưu của cục đường sắt thành phố Giai Mộc Tư và đây là câu chuyện có thật mà bản thân chú từng trải qua.

Đó là mùa xuân năm 1942, năm đó chú Ba tôi vừa tròn 32 tuổi. Một ngày nọ, bỗng nhiên chú phát bệnh, lên cơn sốt cao, bị hôn mê bất tỉnh, gần như vô phương cứu chữa tới hơn 20 ngày. Gia đình tôi đã sẵn sàng chuẩn bị hậu sự. Thế nhưng một buổi sáng nọ, chú bỗng tỉnh lại.

Mọi người vì quá đỗi vui mừng nên cũng không để ý hay hỏi han nhiều, chỉ một lòng chăm sóc sao cho chú hoàn toàn hồi phục. Một ngày nọ cha tôi nói với chú: “Trong những ngày em bị hôn mê, ông cụ Phan thuê nhà chúng ta qua đời rồi”.

Chú nhìn cha tôi và nói: “Em sớm biết chuyện đó rồi”. Trong lòng hơi khó hiểu, cha hỏi lại chú: “Sao em lại biết chuyện đó?”. Chú buột miệng nói: “Khi người ta tới đưa ông ấy đi em cũng đi cùng mà”. Càng ngạc nhiên hơn, cha lại hỏi dồn: “Em đi bằng cách nào?”. Thấy cha tò mò và cố hỏi tới cùng, chú liền không nói gì nữa. Sau đó càng nghĩ cha càng thấy có điều bí ấn nên không ngừng dò hỏi. Biết không thể giấu cha tôi mãi, cuối cùng chú đành kể thật.

“Vào buổi tối em đổ bệnh là lúc em bị 2 tên quỷ âm sai đưa tới một nơi tên là Minh Phủ. Đó là một căn phòng không rộng lắm, bên trong có một cái bàn và có một vị quan sai đang ngồi. Trên bàn có một cuốn sổ rất lớn gọi là sổ sinh tử, trên tường có rất nhiều những mảnh giấy to nhỏ như tấm danh thiếp. Tất cả đều được lật chờ sẵn giống như đó là nơi quản lý hộ khẩu dưới âm gian.

(Hắc Bạch Vô thường. Ảnh dẫn theo tinhhoa.net)

Những quỷ âm sai ra ra vào vào đưa người tới đó đăng ký rồi lại đưa đi, trong phòng cứ tấp nập như vậy một hồi lâu thì chỉ còn mình em. Vị quan sai nói: “Đi đi, đưa anh ta đi xem đi”. Vị quan nói xong, hai quỷ âm sai liền đưa em đi qua một con đường âm u, tối tăm và ngồi vào trong một đống cỏ rồi dặn chỉ được nhìn phía trước nhưng không được nói gì.

Em nhìn theo hướng họ chỉ thì giật mình sợ hãi. Cách đó không xa có hai con chó to giống như là hai con nghé con đang nằm. Không lâu sau, thấy xuất hiện một người khôi ngô cao lớn, lông mày rậm, mắt to, có râu quai nón, tướng mạo trông rất dữ tợn, lại còn có một vết sẹo trên mặt ngông nghênh đi tới và hừ một tiếng.

Bỗng nhiên hai con chó nhảy lên xô ngã anh ta và không ngừng cắn xé. Người đó lăn lộn kêu la một hồi rồi bất động. Hai con chó tiến lại gần và ăn thịt anh ta rồi ngậm xương sọ tới một nơi cách đó không xa toàn là xương người đắp cao thành đống. Em sợ tới mức nhắm nghiền mắt.

Hai con chó lại quay lại chỗ cũ và liếm sạch những vệt máu trên đất rồi nằm tại đó. Một lát sau một người với khuôn mặt hiền từ, quần áo giản dị, tay cầm một lần tràng hạt đi tới. Lúc này trong lòng em như muốn nói điều gì đó mà không nói lên lời, toàn thân run rẩy tròn mắt xem điều gì sẽ xảy ra.

Chỉ nhìn thấy người đó càng đi tới gần thì dường như hai chú chó không động đậy như đã ngủ say. Em liền nghĩ có lẽ chúng no rồi. Nhưng khi người đó đi qua thì lại có một người rất béo nữa tới gần. Người này béo tới mức như bóng nhẫy dầu mỡ và khi tiến lại gần thì hai con chó lại nhảy lên đẩy ngã ông ta xuống rồi cắn xé…

(Ảnh minh họa. Dẫn theo tangovn90.blogspot.sg)

Lúc này hai vị âm sai hỏi: “Có nhìn thấy rõ không?”. Em nói “Nhìn thấy rồi” và họ đưa em đi. Một lát sau có một mùi tanh và hôi thối xộc vào mũi em. Em đi vào nhìn thì hóa ra đó là một bể máu lẫn phân cùng nước tiểu rất lớn. Trong cái bể hỗn độn lờ mờ đó em nhìn thấy có rất nhiều người cả nam cả nữ, cả già cả trẻ, đầu người chìm nổi, hai tay vùng vẫy, chỉ cần mở miệng ra là những thứ kia sẽ trôi vào.

Vừa lúc này, viên cai ngục liền chỉ tay vào những người trong đó và nói: “Đó đều là những người ở thế gian đã làm các nghề như trộm cướp, kỹ nữ, buôn bán người, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bắt cóc tống tiền, vơ vét tài sản của người khác mở kỹ viện… Anh làm nghề gì?”. Em không dám nói gì sợ mình cũng bị đẩy vào đó.

Lúc này hai vị âm sai lại hỏi: “Có nhìn thấy rõ không?”, em vội vàng nói “Nhìn thấy rồi” và họ đưa em đi. Lại tới một nơi khác, ở phía trước có một đoàn người đang xếp hàng dài bị lột hết quần áo và đợi để trói vào một cái cột, những đám cỏ trên đất đầy một màu máu đỏ. Chúng em tới trước mặt một người vừa trắng vừa mập có cái bụng rất to đang bị buộc trên cột thì vừa lúc đó có một tên ác quỷ với cái đầu dài và nhọn hoắt nhe răng đi tới tay cầm một con dao nhọn.

Thấy chúng em tới quỷ sai vỗ vỗ vào bụng người này và nói: “Dạ dày của anh ta không được sạch sẽ cho lắm”. Nói xong liền dùng dao chọc vào bụng và kéo xuống dưới lôi tất cả nội tạng trong bụng ra, bên cạnh là mấy con chó mực lao vào tranh cướp nhau. Mặc dù ruột và dạ dày đã bị lôi ra nhưng phần trên vẫn nối liền với tim chưa có tách rời thân thể lại bị mấy con chó dày vò vô cùng đau đớn làm người đó ngất đi.

Tình cảnh đó vô cùng thê thảm làm em sợ tới mức nhắm nghiền mắt không nhìn tiếp. Qủy âm sai hỏi em: “Ngươi nhìn thấy rõ chưa, ngươi còn không tin nhân quả báo ứng nữa không, còn muốn làm thổ phỉ nữa không?” em vội vàng trả lời: ‘Dạ nhìn thấy rồi ạ, tôi không dám làm thổ phỉ nữa”.

Nói xong họ lại đưa em tới một nơi đầy những tiếng kêu thét vô cùng thảm thương. Một quỷ sai đầu trâu mặt ngựa đang dùng một cái móc câu sắt móc mồm và lôi cái lưỡi của một người ra. Sau đó dùng dao nhọn cắt đứt đầu lưỡi của người đó làm máu tươi bắn đỏ rực trước ngực. Nhưng như vậy chưa phải đã kết thúc, quỷ sai lại tiếp tục dùng mũi khoan sắt xuyên thủng hai má của người đó và dùng dây sắt móc treo lên cột.

Đến cảnh tượng đó quỷ âm sai quay sang nói với em: “Đây là quả báo cho những người không tin vào lời chân thật được dạy trong Phật Pháp lại còn phỉ báng Phật Pháp. Những người này sẽ không thoát khỏi sự trừng trị của luật nơi âm gian, nơi đây trừng phạt đúng người đúng tội, ai làm nấy chịu”.

(Ảnh minh họa: Dẫn theo youtube.com)

Sau đó em lại được tới một vài nơi khác, có nơi móc mắt người, lại có người bị đẩy vào vạc dầu, móc tim, ngũ mã phanh thây, dùng nước sôi đổ vào tay, dùng mũi kim thép khâu miệng, quỷ đói khát, lại có người hút thuốc phải đi xuyên qua hang khói lửa tới 40km… Cuối cùng họ đưa em trở lại nơi ban đầu khi vừa bước vào tới cửa vị sai quan liền hỏi em: “Đã đi xem hết rồi à?”. Em gật đầu. Ông ta nói xong liền chỉ vào một tấm danh thiếp đã bị lật lên và nói với hai quỷ âm sai: “Đi đưa người đó đến đây và đưa người này đi theo luôn”.

Em đi cùng hai quỷ âm sai một hồi thì tới cửa nhà mình. Em đang giật mình tự hỏi: ‘Đây chẳng phải nhà mình sao? Lẽ nào thọ mệnh của cha đã hết”. Em đi cùng họ vào tới vườn thì thấy họ đi thẳng một mạch xuống nhà dưới nơi cụ Phan thuê nhà và trốn vào một góc nhà. Lúc này cụ Phan đang nằm trên giường, trong phòng lại có rất nhiều người và bà Phan thì ngồi bên cạnh ông.

Một lát sau mọi người đều đi ngủ hết chỉ còn lại mình bà Phan ngồi đó trông chồng nhưng vì mệt quá nên ngồi một lát bà liền ngủ gà ngủ gật. Khi này hai quỷ âm sai mới rón rén đi tới cạnh cụ Phan và móc trong túi ra một cái gương nhỏ (gọi là gương câu hồn) rồi chiếu lên người cụ Phan một cái xong lại nhét vào trong ngực. Sau đó đưa tay đặt lên đầu cụ Phan và dùng lực vừa lay vừa nói: “Dậy đi, dậy đi xuống âm gian nào”. Thế là cụ Phan tỉnh và theo hai tên quỷ âm sai đi xuống địa ngục mà chỉ đeo một chiếc giày trên cổ còn bị đeo một cái xích kéo lôi một bên. Cụ Phan nhìn thấy em hình như muốn nói gì đó nhưng em tránh không nhìn ông ấy.

Lúc này bà Phan mơ mơ tỉnh tỉnh sờ sang chồng, thấy chồng không ổn liền liên tục gọi: “Ông Phan, ông Phan” làm tất cả mọi người đang ngủ đều tỉnh giấc. Nhìn thấy cụ Phan không ổn lắm, họ liền bê ông xuống dưới đất. Mọi người bắt đầu bận rộn, người thì đốt tiền giấy, người thì lên kế hoạch cho đám ma.

Quỷ sai vừa dắt cụ Phan vừa lôi em đi tới bên cạnh nơi đốt tiền giấy dơ tay ra vơ một nắm rồi rời đi. Khi em ra tới vườn thì bà Phan khóc gào lên thảm thiết làm cụ Phan không nỡ rời đi nhưng bị hai quỷ sai cưỡng bức đưa đi. Không lâu sau đó em lại được đưa lại căn phòng ban đầu. Vị quan sai nói: “Đưa ông ta đi đi”. Và thế là hai quỷ sai đưa cụ Phan đi, phải cho tới lúc này em mới nhìn rõ tấm danh thiếp bị lật lên trên đó là viết tên cụ Phan.

(Ảnh minh họa: Dẫn theo YouTube.com)

Hai tên quỷ âm sai lại hỏi: “Còn anh ta thì làm thế nào ạ?”. Vị sai quan chần chừ một lát rồi nói: “Xem xem anh ta còn bao nhiêu dương thọ?”. Một người khác liền lật cuốn sổ sinh tử ra hồi lâu và nói “Dạ còn lâu ạ!”. Lúc này em vội vàng nói với vị sai quan kia: “Cả nhà tôi đều ăn chay tu luyện. Khi trở về tôi cũng sẽ tu luyện theo họ”.

Vị sai quan mỉm cười nói: “Ngươi muốn tu luyện thật sao? Ta nói cho ngươi biết điều này, con người có ba Tịch sách (nơi đăng ký tên tuổi): “Nguyên tịch” ở Phật quốc, chính là nguồn gốc nguyên lai của sinh mệnh. “Ký tịch” ở nhân gian và “Phân tịch” chính là nơi âm gian này. Nhân gian vốn không phải là nhà của con người trần tục các ngươi. Bởi vậy chỉ có thể tu đạo và học Phật Pháp tại thế gian con người mới có thể trở về cố hương của mình nơi Phật quốc”.

Lúc này viên quan đang xem sổ sinh tử nói: “Hãy cho anh ta về đi ạ. Nếu anh ta tu thành một người thiện lương thì sao?”. Vị sai quan liền nói tiếp: “Ta có thể để ngươi trở về nhưng sau khi về không được phép tiết lộ những điều đã nhìn thấy”. Em vội vàng nói: “Dạ” và thế là họ đưa em về lại nhà mình.

Về tới nhà vừa đúng lúc vợ em đang làm bữa sáng. Vừa bước vào phòng, em lại còn nhìn thấy một người đàn ông đang nằm trên giường thì trong lòng vô cùng tức giận tự nói: “Được đấy nhỉ ta vừa đi vắng vài ngày ngươi đã dám dẫn trai về nhà”. Em muốn xem người đàn ông đó là ai liền hất tung quần áo của vợ xuống đất thì cảm thấy bản thân lắc lư một chút rồi tỉnh lại hóa ra người nằm trên giường đó chính là thể xác của mình”.

Không lâu sau khi chú Ba kể lại những gì mình đã trải qua bỗng một ngày chú không thể nói chuyện được nữa. Cả nhà chẳng biết chú mắc bệnh gì nên đưa chú đi khắp nơi tìm danh y chạy chữa mà đều không khỏi. Vào một buổi sáng của ba tháng sau đó, bỗng nhiên chú lại có thể nói chuyện bình thường. Cha tôi lại hỏi chú tại sao lại xảy ra chuyện đó.

Chú liền nói: “Tất cả là tại anh đấy. Họ đã không cho phép em nói ra, anh lại cứ gặng hỏi làm họ lại bắt em đi. Họ nói em tiết lộ thiên cơ và trừng phạt, bắt em uống thứ nước gì đó để phạt không cho em nói chuyện ba tháng”.

Sau đó chú nói với gia đình tôi:

“Mọi người có biết tại sao họ cho em tận mắt chứng kiến tất cả những việc đó không? Nguyên nhân vì mấy đời tổ tiên nhà ta đều tin Phật Pháp, tu Phật Pháp và thường xuyên trai giới niệm Phật, lại luôn tích đức hành thiện, tu hành rất tốt. Chỉ có em là người ngoại đạo lòng dạ hiểm độc lúc đó lại không tin Phật pháp là gì.

Bởi vậy Thần linh mới để em chứng kiến tất cả mà tự mình tìm hiểu xem rốt cuộc có lục đạo luân hồi, nhân quả báo ứng hay không. Hóa ra tất cả những lời dạy trong Phật Pháp của Đức Phật từ bi đều là thật và chỉ có người tu theo Phật Pháp mới thực sự được hưởng phúc”.

Kiên Định (DKN.tv)

Sẽ chẳng có loài hoa nào gợi cho ta một cảm giác thánh khiết, trong ngần như hoa sen. Hoa vươn lên từ nơi bùn lầy mà vẫn ngát hương, đẹp tinh khôi mà vẫn bình dị, khiêm nhường. Và đó chính là Sen – loài hoa tượng trưng cho cốt cách thanh tao của người tu Phật.

Trong ngàn vạn thứ hoa, chỉ có hoa sen là thanh tịnh và thuần khiết nhất. Hoa mọc từ rễ củ nằm sâu trong bùn lầy, khi thời khắc đến sẽ nẩy mầm rồi từ từ vươn lên khỏi mặt nước. Tự bản thân hoa đã có tính vô nhiễm, thế nên dẫu mọc từ bùn nhưng không mang mùi hôi tanh của bùn, dẫu vươn lên từ đầm lầy nhưng lại không hề nhuốm bụi bẩn. Cũng lại nói, hoa không chỉ làm sạch tự mình, mà còn khiến vạn vật xung quanh đều trở nên thuần tịnh. Nơi nào có hoa sen mọc, thì nơi ấy nước được làm trong, cũng giống như nơi nào có Phật Pháp, thì nơi ấy có được miền tịnh thổ.

Hoa sen có nhiều màu sắc, mà mỗi thứ màu lại mang một ý nghĩa thanh cao, thoát tục: Sen bạch tượng trưng cho tâm hồn trắng trong, thuần khiết; sen xanh tượng trưng cho trí huệ viên thành; sen tím tượng trưng cho những điều huyền diệu; sen vàng tượng trưng cho sự giác ngộ; và sen hồng tượng trưng cho lòng từ bi vô hạn.

Hoa sen vừa có sắc lại vừa có hương. Hương hoa thoang thoảng, sắc hoa dịu dàng, cho nên hoa đứng kiêu hãnh giữa đầm mà vẫn không tạo cảm giác kiêu kỳ, ngược lại, còn khiến người thưởng lãm được đắm mình trong bầu không khí an lành, tĩnh tại. Thân sen ngay thẳng, có gai mà không sắc nhọn, trong ruột lại trống rỗng giống như tánh ‘không’ của người tu luyện, cho nên hoa mới nhẹ nhàng, thản đãng, thanh tịnh, vô vi. Đó được gọi là:

“Diệu tánh hư vô bất khả phân
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vị càn.”

(Thiền sư Ngộ Ấn)

Tạm dịch:

“Diệu tánh rỗng không chẳng thể bâu (bám)
Rỗng không tâm ngộ khó gì đâu
Trên non ngọc đốt màu thường đẹp
Sen nở trong lò ước chửa khô”

Hoa sen có nhiều màu sắc, mà mỗi thứ màu lại mang một ý nghĩa thanh cao, thoát tục. (Ảnh: OCuaSo.Com)

“Liên hoa mộng ứng thiên sinh thánh” (giấc mộng hoa sen ứng với điềm Trời sinh bậc Thánh). Tương truyền, trước khi Đức Phật giáng sinh, mẫu thân của Ngài là hoàng hậu Ma Da từng nằm mơ thấy một con voi trắng mang theo đóa sen cũng màu trắng. Khi Đức Phật đản sinh ở vườn Lâm Tỳ Ni, dưới tán hoa Vô Ưu, Ngài liền bước đi bảy bước, và dưới mỗi bước chân đều có đóa sen vàng nâng gót ngọc. Ngài đứng trên đài hoa sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, và nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy nhã độc tôn, yếu độ chúng sinh, sinh lão bệnh tử” (Trên trời, dưới đất, hiện nay duy có ta, muốn độ chúng sinh, thoát khỏi sinh lão bệnh tử).

Truyền thuyết kể rằng, hoa sen không phải là thứ hoa nơi trần thế mà bắt nguồn từ thiên thượng, là biểu tượng thanh tịnh của cõi Phật. Từ tranh, tượng, bất cứ nơi nào có hình tượng Phật, chúng ta đều thấy vị Phật ngồi xếp bằng trên đài hoa sen. Theo kinh điển Phật giáo, “Phật tọa tòa sen” mang một ý nghĩa thanh cao: Phật Pháp thì trang nghiêm thần diệu, mà hoa sen lại mềm mại, thanh tịnh và ngan ngát hương thơm. Cho nên, đài sen nghiêm trang, hương thơm thuần tịnh, là nơi Phật có thể tĩnh tọa.

Lại có một truyền thuyết kể rằng, một ngày, trước mặt đông đảo đại chúng, Đức Phật không thuyết Pháp mà chỉ lặng lẽ đưa lên một đóa sen. Khi đại chúng còn đang ngơ ngác chẳng hiểu, thì chỉ có đại đệ tử Ma-ha Ca-diếp mỉm cười. Đức Phật liền tuyên bố với các tì kheo: “Ta có chính pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-diếp. Ca-diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy tì kheo, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh”. Có thể thấy, hoa sen không chỉ là một loài hoa đơn thuần, mà còn biểu tượng cho Phật tính và giác ngộ.

Hoa sen ngụ ý rằng sinh mệnh sinh ra trong sinh tử phiền não, nhờ tu luyện mà thoát khỏi sinh tử phiền não. Hoa sen mọc dưới bùn nhơ, cũng giống như con người qua bao kiếp bao đời đã trầm luân trong bể sầu nhân thế. Rồi hoa vươn lên thẳng tắp, cũng chính là quá trình tu luyện, rũ khỏi bùn nhơ, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Khi đóa hoa nhô lên khỏi mặt nước, cũng là lúc những cánh sen bừng nở, tỏa hương ngan ngát dưới ánh mặt trời, đó là lúc Phật tính nhờ tu luyện mà giác ngộ, hoa đại mãn khai.

Hoa sen không chỉ là một loài hoa đơn thuần, mà còn biểu tượng cho Phật tính và giác ngộ. (Ảnh: tranhdepnamlong.com)

Hoa vốn là hoa nơi thiên thượng, là hoa của Phật quốc thanh cao, nay lại hạ thế làm một thứ hoa ở nhân gian – phải chăng là để gửi gắm thông điệp rằng: Phật tính của con người cũng giống như hoa sen vô nhiễm, mọc trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Con người nơi nhân thế, dẫu cát bụi hồng trần có vô tình che đi bản tính thuần phác lúc tiên thiên, và dẫu đạo đức suy đồi có lạnh lùng nhấn chìm người ta trong cạm bẫy danh lợi, thì cái phần bản chất nhất cốt lõi nhất – cũng chính là sự thuần thiện, thuần chân, thuần khiết – vẫn luôn ở đó không bao giờ thay đổi. Chỉ cần lau sạch đi lớp bụi hồng trần, thì bản tính ấy sẽ hoàn toàn hiển lộ. Con người trong quá trình tu luyện, cũng chính là từng bước từng bước phủi đi lớp bụi trần. Người tu luyện ngay trong cõi hồng trần ô trọc mà tu chính mình, thân tâm thanh tịnh không còn dính bụi trần, giống như hoa sen mọc trong bùn mà tự rũ sạch khỏi bùn, cuối cùng đạt đến bờ giác ngộ và hoàn toàn giải thoát, cũng là lúc đóa sen kia mãn khai, tỏa hương ngan ngát.

Trong sách “Tánh mạng khuê” có bài thơ rằng:

“Hồng hồng bạch bạch thủy trung liên,
Xuất ố nê trung sắc chuyền liên;
Hành trực ngẫu không bổng hựu thục ,
Tu hành diệu lý kháp như nhiên”.

Tạm dịch:

Sen nở trong đầm đỏ trắng phơi,
Bùn nhơ không nhiễm sắc thêm tươi.
Thân ngay, ngó rỗng, gương đầy hột.
Cái lý tu hành cũng thế thôi.

Hoa vốn là hoa nơi thiên thượng, là hoa của Phật quốc thanh cao. (Ảnh: Phununet)

Sen tỏa ngát hương thơm giữa bùn lầy nhơ nhớp. Trong cõi đời trầm luân, người tu có thể thoát khỏi mọi dục vọng, buông bỏ mọi phiền não thì sẽ đến bến bờ an lạc. Hoa sen bừng nở, trí huệ viên mãn, hương thơm lan tỏa khắp không gian. Đời người cũng giống như hoa ấy, từ phiền não mà đến thanh tịnh, mọc từ bùn lầy rồi nở hoa trên mặt nước, từ bùn đất mọc ra mà không nhiễm mùi bùn.

Nam Phương – Hồng Liên

Con người vì sao cứ tin vào những điều vô thường, hư ảo của thế gian mà không tin vào những điều thù thắng, chân thực của Phật lý, điều có thể giúp con người thoát khỏi bến khổ bờ mê?

Một lần, vị quốc vương hỏi một tỳ kheo: “Trong kinh Phật có giảng, người tại thế gian làm điều đại ác, tuy tội đại ác nhưng nếu trước lúc lâm chung, nếu như người đó có lòng nhất tâm niệm Phật ắt sẽ được sinh về miền tịnh độ. Câu nói này khiến người ta thật khó tin. Trong kinh văn cũng lại có thuyết nói rằng, nếu một người mà phạm tội sát sinh thì ắt bị đày vào địa ngục. Câu nói này cũng khiến người ta thật khó lý giải, xin ngài giải thích giúp tôi”.

Vị tỳ kheo nghe xong bèn hỏi quốc vương: “Xin hỏi đại vương, nếu như lấy một viên đá nhỏ để trên mặt nước, viên đá đó sẽ chìm hay nổi?”.

Quốc vương kia trả lời. “Đương nhiên nó sẽ chìm rồi”.

Vị tỳ kheo kia lại hỏi quốc vương: “Vậy nếu như đem một tảng đá to đặt trên chiếc thuyền thì tảng đá đó chìm hay nổi?”.

Quốc vương đáp: “Đương nhiên là nổi rồi, vì nó có thuyền nâng đỡ”.

Vị tỳ kheo nghe vậy liền giảng giải: “Tảng đá to kia đặt trên chiếc thuyền nên không bị chìm xuống thì cũng giống như người làm điều ác kia vậy. Chỉ cần thành tâm hướng Phật, tin vào Phật Pháp, con thuyền Phật Pháp từ bi tự nhiên sẽ không để họ bị rơi xuống. Vậy ở đây có gì khó hiểu? Viên đá tuy nhỏ, nhưng vì không có gì nâng đỡ cho nên nó sẽ chìm ngay xuống đáy, cũng như con người không tin vào Phật Pháp, sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục. Đạo lý đơn giản là vậy, có gì khó hiểu đâu?”.

(Ảnh: michaelandersongallery.com)

Vị quốc vương nghe xong như người tỉnh cơn mơ nói: “Thiện tai, thiện tai, Phật Pháp thật là thâm sâu vi diệu, không thể nghĩ bàn”.

Con người vì sao lại mê mờ vào những điều vô thường, hư ảo trước mắt mà lại không tin vào những điều chân thực, thù thắng của Phật Pháp, điều có thể giúp con người siêu thoái khỏi bể khổ trầm luân? Nguyên nhân chính là bởi con người bị sự hiểu biết nông cạn của chính mình che mắt, cộng với giả tướng mà cặp mắt thịt này của con người mang lại. Cho nên đối với những Pháp lý siêu phàm thoát tục thì đều khiến con người không tin. Có người thường cho rằng: “Không thấy không tin” là lẽ thường tình, có những điều con người nhìn mà không thấy, thậm chí là cố tình né tránh không chịu đi tìm hiểu chân lý đằng sau đó.

Phật Pháp vô biên là điều không thể dùng cái lý chốn người thường để đo lường, cũng là điều mà không phải bất cứ người thường nào cũng có thể lý giải. Con người chỉ có thể nhìn thấy Phật lý khi buông bỏ những tri thức hoặc cái khung phong bế của khoa học hiện đại, sẵn lòng buông bỏ những quan niệm cố hữu để tìm cho mình một chân lý mới. Khi con người có thể làm được điều đó, thì chúng ta sẽ thấy được sự huyền diệu của Phật Pháp, có thể thể nghiệm một cách thực tại đạo lý thâm sâu của Phật Pháp, vốn là điều siêu thường nơi nhân loại chúng ta.

Theo Secretchina 
Minh Vũ

Nếu bạn tin Thượng Đế và Thượng Đế không tồn tại, bạn sẽ mất những gì? Còn nếu Thượng Đế thực sự tồn tại nhưng bạn lại một mực phủ nhận, một mực không tin theo, vậy bạn sẽ mất những gì?

Trong một lần giảng bài trên lớp, một vị giáo sư hỏi các sinh viên: “Có phải mọi thứ trên đời này đều do Thượng Đế tạo ra không?”.

Một sinh viên đứng dậy và trả lời: “Vâng, đúng ạ”.

Vị giáo sư hỏi tiếp: “Nếu Thượng Đế tạo ra tất cả mọi thứ, điều đó có nghĩa Thượng Đế cũng tạo ra cả cái ác. Nếu chiểu theo nguyên tắc: Những việc chúng ta làm sẽ xác định chúng ta là ai, vậy Thượng Đế cũng là kẻ ác phải không?”

Cả lớp im lặng sau khi nghe điều này. Vị giáo sư rất vui mừng khi một lần nữa ông lại chứng minh được rằng Thượng Đế có lẽ chỉ hiện diện trong thần thoại.

Tuy nhiên chỉ ít phút sau, một sinh viên khác đứng dậy và nói: “Thưa giáo sư, em có thể hỏi thầy một câu được không ạ?”

Vị giáo sư đáp: “Tất nhiên rồi”.

Cậu sinh viên hỏi: “Thưa giáo sư, cái lạnh có tồn tại không ạ?”

“Tất nhiên là có. Chẳng lẽ cậu chưa bao giờ thấy lạnh sao chàng trai?”, vị giáo sư hỏi vặn lại cậu sinh viên.

Trong lớp bỗng bật lên những tràng cười không ngớt và tiếng xì xào bàn tán.

Nghe câu trả lời từ giáo sư, cậu sinh viên từ tốn nói: “Thưa thầy, thực ra cái lạnh không hề tồn tại. Theo định luật vật lý thì chúng ta chỉ nghĩ về cái lạnh khi chúng ta không thấy có nhiệt. Khi nhiệt độ xuống đến 0 độ, đó là lúc thực sự không có nhiệt. Vậy chúng ta tạo ra từ “lạnh” là để diễn tả trạng thái không có nhiệt”.

Cậu sinh viên này tiếp tục đặt ra một câu hỏi khác: “Thưa thầy, bóng tối có tồn tại không ạ?”

“Tất nhiên là có rồi”.

%image_alt%
Thượng Đế không tạo ra điều ác, điều ác chính là kết quả của việc trái tim con người không còn lương thiện. Nó giống như cái lạnh sẽ đến khi không có nhiệt hoặc bóng tối sẽ đến khi không còn ánh sáng nữa. (Ảnh minh họa: Dẫn theo moctuyen.wordpress.com)

Một lần nữa, cậu sinh viên lại trả lời: “Thưa thầy, thầy lại sai rồi. Bóng tối thực sự không tồn tại. Đó chỉ là trạng thái không có ánh sáng. Chúng ta chỉ có thể nghiên cứu về ánh sáng mà không nghiên cứu về bóng tối. Theo định luật Newton, chúng ta có thể nghiên cứu về ánh sáng trắng và phát triển nó thành nhiều màu khác nhau nhưng chúng ta không thể đo lường được mức độ tối của bóng tối. Làm thế nào để chúng ta có thể đo được lượng bóng tối trong một không gian nhất định? Bóng tối chỉ là cụm từ được sử dụng để mô tả việc thiếu ánh sáng mà thôi”.

Cuối cùng, cậu sinh viên hỏi: “Thưa giáo sư, vậy thì cái ác có tồn tại không?”

Vị giáo sư trả lời: “Có, tất nhiên cái ác có tồn tại. Không những thế, chúng ta còn thấy nó đang hiện diện trong cuộc sống hàng ngày. Tội phạm, bạo lực xảy ra trên toàn thế giới chính là ví dụ về cái ác”.

Một lần nữa, cậu sinh viên vừa lắc đầu vừa mỉm cười: “Không phải vậy thưa giáo sư. Cái ác tự nó không tồn tại, mà đó chỉ là sự thiếu vắng cái thiện. Thượng Đế không tạo ra điều ác, điều ác chính là kết quả của việc trái tim con người không còn lương thiện. Nó giống như cái lạnh sẽ đến khi không có nhiệt hoặc bóng tối sẽ đến khi không còn ánh sáng nữa”.

***

Có lẽ, điều mà vị giáo sư trong câu chuyện ở trên ngờ vực, cũng là nỗi nghi hoặc của rất nhiều người trên thế gian này. Tuy nhiên, câu trả lời hết sức đơn giản nhưng cũng cực kỳ thông minh của cậu học trò đã giải khai cho những điều thắc mắc ấy.

Vậy, có bao giờ bạn từng suy nghĩ, nếu bạn tin vào Thượng đế và Thần Phật, và Họ không tồn tại, bạn sẽ mất những gì? Còn nếu như Thượng đế, Thần Phật thật sự có tồn tại, nhưng bạn lại phỉ báng Họ, bạn sẽ mất những gì?

Nhờ có niềm tin vào Phật, bạn đã có một đời an lạc. Vậy bạn đã được gì và mất gì? (Ảnh dẫn theo tinhhoa.net)

Đối với mỗi người trong chúng ta, bất kể là có tin Thượng đế, Thần Phật hay không thì đều biết rằng Thượng đế, Thần Phật là lương thiện, là từ bi và luôn bảo hộ chúng sinh. Ý chỉ của Phật là giáo huấn con người sống lương thiện, chân thành và khoan dung. Mọi người khi gặp nạn đều khẩn cầu Thượng đế, Thần Phật phù hộ.

Người có lòng tin vào Đấng tối cao và Thần Phật thường là người lương thiện, trong tâm họ luôn chứa đựng những lời dạy bảo và ý chỉ của Phật. Họ luôn luôn vui vẻ, bao dung và biết ơn. Họ tin rằng thiện ác hữu báo nên họ không làm điều ác, tôn sùng điều thiện và hòa ái, chân thành; như vậy không tốt sao?

Và bởi vì người ta không tin vào sự tồn tại của Đức Phật, không tin vào thiện ác hữu báo, nên họ dám làm bất kỳ điều gì để đạt được danh lợi cho mình, không có đạo đức để ước thúc tâm mình.

Shakespeare đã từng nói rằng:

 “Đừng phỉ báng những điều bạn không biết sự thật, nếu không, tính mạng của bạn sẽ gặp trùng trùng điệp điệp những nguy hiểm”.

Nếu khi bạn chết, bạn thực sự thấy Đức Phật, Phật Pháp đúng là có thật, cũng có luân hồi và địa ngục. Như vậy những người lương thiện thì thật đáng quý, còn bạn, bạn đã mất đi điều gì?

Hãy nhìn xung quanh chúng ta, nếu một thế giới không có đức tin đúng đắn, người ta sẽ không còn phân biệt được thiện – ác, đúng – sai. Chân thành, lương thiện, nhẫn nhịn, những người có những đức tính này là những người tốt nhất. Còn những người bị tiền bạc thay thế thiện niệm, bái lạy Phật chỉ vì danh lợi, họ đã bị mất đi phương hướng, tìm không thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống này.

Bản tính con người là thiện – ác đồng thời tồn tại. Vậy nên, hạt giống lương thiện ở trong tâm hồn mỗi chúng ta, hãy tưới lên nó đức tin đúng đắn, nếu như vậy bạn sẽ tuyệt đối không mất gì mà còn có được một cuộc sống hạnh phúc tròn đầy!

Ngọc Tâm (DKN.tv)

Trong Tây Du Ký, hầu hết các ma nạn trên đường đều là do yêu ma quỷ quái hoành hành. Thế nhưng, có một vị Đại Tiên lại ra sức làm khó dễ thầy trò Đường Tăng, chỉ vì một cây xanh mà bắt trói bốn thầy trò đến hai lần, kiên quyết mãi không chịu tha thứ.

Vị Đại Tiên ấy chính là Trấn Nguyên Tử, đạo chủ của Ngũ Trang quán trên núi Vạn Thọ, đồng thời là Tiên nhân đứng đầu trong các Địa Tiên.

Một vị Thần Tiên vĩ đại như thế, cớ sao lại gây khó dễ cho người khác đến vậy? Bất ngờ hơn là, ông đang trong cơn thịnh nộ lại quay ngoắt 180 độ, cùng Tôn Ngộ Không kết bái huynh đệ, rốt cuộc vị Đại Tiên này còn ý gì nữa đây?

Vạn Thọ Sơn phúc địa, Ngũ Trang Quán động thiên

Phải nói rằng, kể từ lúc bước chân ra khỏi lãnh thổ Đại Đường, suốt chặng hành trình Tam Tạng luôn gặp phải đám yêu ma quỷ quái, gần như ngày nào cũng sống trong tâm trạng phập phồng lo sợ, đến mức kinh hồn bạt vía. Đầu tiên là gặp con khỉ tính tình nóng nảy, may được Quan Âm Bồ Tát ban cho chiếc vòng kim cô và bài chú “Khẩn Cô Nhi”, nếu không cả ngày sẽ phải chóng mặt vì con khỉ hiếu động ấy, lúc thì lên trời, khi thì xuống đất, động tý là lấy gậy kim cô giao đấu, thật khiến người ta lo lắng. Tiếp đó lại gặp một con heo tài phép, thoắt ẩn thoắt hiện, dám cả gan chiếm giữ con gái nhà lành, thì quả là một phen hú vía.

Trên đường còn gặp phải con rồng chặn đường, còn có yêu quái sông Sa Hà sát khí đằng đằng, lại thêm Hắc Hùng tinh và các loại yêu ma quỷ quái… Nói tóm lại là từ sau khi Tam Tạng bước chân ra khỏi Đại Đường, người chẳng gặp được mấy, mà mỗi ngày đều là yêu quái nọ nối tiếp yêu quái kia. Chỉ cần nhìn thấy núi cao rừng rậm, là trong lòng Đường Tăng lại run như cầy sấy, chân cũng mềm nhũn ra từ lúc nào không hay.

May thay trong đám “yêu quái” đáng sợ ấy, Đường Tăng đã thu nhận được ba đồ đệ thần thông quảng đại, thật cũng chẳng mong cầu gì hơn.

Một ngày trên đường, bốn thầy trò thấy chắn ngang trước mặt là một ngọn núi cao. (Ảnh minh họa: phimmoi.net)

Một ngày trên đường, bốn thầy trò thấy chắn ngang trước mặt là một ngọn núi cao. Giác quan thứ sáu mách bảo Đường Tăng rằng, bầu không khí nơi đây thật tường hòa ấm áp.

“Hạc trắng vờn ngọn trắc,
Vượn đen đu cành la…

Thấp thoáng muôn đỉnh núi,
Hào quang rọi nguy nga…

Phượng hoàng, chim tụ tập,
Kỳ lân, thú vào ra”.

Cảnh sắc sơn thuỷ hữu tình, chim muông vạn vật, thật khiến người ta không còn có cảm giác căng thẳng lo sợ nữa.

Tôn Ngộ Không nói với Đường Tăng rằng, một nơi như thế nhất định không có yêu quái. Tục ngữ có câu: “Người phúc ở đất phúc, đất phúc người phúc ở”, ngọn núi này hẳn là nơi Thánh tăng đạo sĩ đang ẩn mình.

Tam Tạng ngồi trên lưng ngựa, nhìn ngắm cảnh sắc đẹp đẽ tường hòa, thích thú nói: “Các đồ đệ ơi, ta từ ngày sang phương Tây, trải qua nhiều núi non hiểm trở, nhưng chưa thấy đâu đẹp như ngọn núi này. Thật là nơi vô cùng ưu nhã! Hay là sắp tới chùa Lôi Âm chăng? Nếu vậy, chúng ta mau mau sửa soạn quần áo ngay ngắn yết kiến đức Thế Tôn”.

Ngộ Không nói: “Sư phụ đi từ trẻ cho tới già, già rồi lại trẻ, một nghìn lần như vậy vẫn còn khó. Chỉ mong sư phụ thành tâm kiên tính, tâm tâm niệm niệm, suy nghĩ giác ngộ, là tới ngay Linh Sơn đó”.

Thật không dễ dàng gì thả lỏng tâm tình, nhìn ngắm cảnh sắc núi non đẹp đẽ nơi này. Đi tiếp về trước, nhìn thấy một tòa đạo quán nguy nga, bốn thầy trò đi ngang qua bước vào đạo quán hóa duyên.

Hai tiểu đạo đồng bước ra đón tiếp, nói rằng sư phụ họ đã ra ngoài, nhưng trước khi đi căn dặn rằng sẽ có bạn cũ đến thăm, phải đón tiếp tử tế.

Hai tiểu đạo đồng bước ra đón tiếp 4 thầy trò đường tăng vào Đao quán. (Ảnh: youtube.com)

Rất nhiều người từng đọc Tây Du Ký đều cho rằng bốn thầy trò Đường Tăng thật ra là một người. Tôn Ngộ Không là đại biểu cho tâm của người tu hành, vậy nên trong Tây Du Ký, trong đề mục của rất nhiều chương tiết đều xuất hiện từ “tâm viên” (lòng vượn), cũng chính là Tôn Ngộ Không.

Nếu tinh tế một chút, sẽ phát hiện câu đối ngoài cửa đá Hoa Quả sơn nơi ở của Tôn Ngộ Không năm xưa với câu đối trên cửa Ngũ Trang quán hôm nay có khí chất tương tự. Cũng chính là nói, hóa duyên gặp nạn nơi Ngũ Trang quán còn là hóa giải một đoạn duyên này.

Gặp nạn quán Ngũ Trang, hoá giải đoạn nhân duyên

Hãy nói thầy trò Đường Tăng đi vào Ngũ Trang quán, hồi thứ 24 miêu tả:

Tam Tạng rời yên xuống ngựa, nhìn thấy một tấm bia dựng bên trái cổng, trên đó có khắc mười chữ lớn:

“Vạn Thọ Sơn phúc địa, Ngũ Trang Quán động thiên”
(Phúc địa núi Vạn Thọ, động trời quán Ngũ Trang).

So sánh với hồi thứ nhất trong “Tây Du Ký”:

Khỉ đá xem xét hồi lâu, đi ra giữa cầu, nhìn ngắm hai bên, chỉ thấy chính giữa có tấm bia đá khắc mười chữ to:

“Hoa Quả Sơn phúc địa, Thủy Liêm Động động thiên”
(Phúc địa núi Hoa Quả, động trời động Thủy Liêm).

Có thể thấy Tôn Ngộ Không yêu thích núi Hoa Quả và vị Trấn Nguyên Đại Tiên yêu thích phúc địa động trời này thật sự có mấy phần khí chất tương đồng.

Lại nói, Đường Tăng trước khi chuyển sinh nguyên là Kim Thiền Tử, đệ tử của Phật Như Lai, trong hội Vu Lan Bồn từng có duyên tương ngộ cùng Trấn Nguyên Đại Tiên. Xưa vì có duyên phận nên hôm nay mới gặp lại nhau chăng?

Thế cho nên, Tôn Ngộ Không tính khí nóng nảy ngang ngược, nay lại gặp Trấn Nguyên Đại Tiên một mực cố chấp. Thói trộm cắp chẳng qua chỉ là bản tính hiếu động của loài khỉ, vốn không phải chuyện gì quá to tát. Vậy mà hôm nay gặp đúng “đối thủ”, vốn là bậc Chân Nhân đạo sĩ, quả đúng là “giao chân” (đánh nhau) mà!

Đừng nói đến quả nhân sâm trân quý ra sao, cho dù chỉ là những chuyện bình thường, thì từ quan điểm “tu Chân” của Đạo gia mà xét, là một thì chính là một, là hai thì chính là hai, điều này quyết không thể hàm hồ được.

Thế mà, hai tiểu đồng khăng khăng nói rằng mất 4 quả nhân sâm, trong khi Tôn Ngộ Không chỉ hái trộm 3 quả. Tiểu đồng tử cho rằng hái trộm chính là phường trộm cướp, nói dối chính là bất chân – đức hạnh tệ hại như vậy, sao xứng làm người tu hành? Nghĩ vậy họ liền tức miệng mắng chửi bốn thầy trò.

Tiểu đồng tử cho rằng hái trộm chính là phường trộm cướp, nói dối chính là bất chân – đức hạnh tệ hại như vậy, sao xứng làm người tu hành? Nghĩ vậy họ liền tức miệng mắng chửi bốn thầy trò. (Ảnh: youtube.com)

Còn Tôn Ngộ Không nghĩ, rõ ràng mình chỉ hái có 3 quả, giờ đây lại bị vu oan thành 4 quả. Cho nên, Tôn Ngộ Không không chịu được khuất nhục đã xảy ra trận tranh cãi nảy lửa với hai vị tiểu đồng.

Tôn Ngộ Không không chịu nổi vu oan giá họa liền nổi giận đùng đùng. Tha thứ bản thân ăn trộm thì dễ, nhưng thứ lỗi cho kẻ khác vu oan cho mình, lại là điều không thể chấp nhận. Ngộ Không liền dùng thần thông, đánh bật cả cây lẫn gốc trong sân. Cây nhân sâm nguyên là báu vật, từ khi vũ trụ còn hỗn độn mới chia, trời đất còn mờ mịt chưa phân, đã có thứ cây linh thiêng này, vậy mà bị đánh đến nát nhừ, giúp Ngộ Không hả hê hả dạ trút được cơn giận sục sôi trong lòng.

Không biết phải làm sao, hai tiểu đồng tử thừa lúc bốn thầy trò Đường Tăng dùng cơm đã nhốt bốn người họ trong phòng, chờ sư phụ là Trấn Nguyên Tử về xử trí.

Bị nhốt trong phòng, chút chuyện nhỏ này đương nhiên không làm khó được Ngộ Không thần thông quảng đại. Nhớ năm xưa trong vườn Bàn Đào ở thiên cung, con khỉ cũng từng ăn trộm đào tiên như vậy. Giờ đây xử lý chuyện ăn trộm quả nhâm sâm này cũng là chuyện “xe nhẹ chạy đường quen”, thừa lúc mọi người không chú ý, chi bằng lẳng lặng chuồn đi cho êm chuyện.

Nhân lúc trời tối, Tôn Ngộ Không dùng thần thông mở khóa, dẫn theo sư phụ cùng các sư đệ trốn khỏi quán Ngũ Trang. Vì để tránh hai vị tiểu đồng đuổi theo sau, Ngộ Không bắn con sâu ngủ lên người họ, các tiểu đồng ngủ li bì không dậy được.

Lúc này, Trấn Nguyên Tử trở về, dùng nước lạnh hắt tỉnh học trò rồi hỏi rõ tình hình. Nghe thuật lại chuyện khách quý ăn trộm đồ, lại lẻn đi một cách trắng trợn, người tu hành sao có thể làm ra những chuyện đê hèn này? Nhất định phải tìm họ hỏi rõ nguyên nhân!

Trấn Nguyên Tử cưỡi mây lành đuổi theo, đằng vân một cái đi được một vạn dặm, trong khi thầy trò bốn người đi cả một ngày một đêm vẫn chưa được một trăm dặm, Trấn Nguyên Tử lại phải đi vòng lại chín nghìn dặm, đáp mây xuống.

Trấn Nguyên Tử muốn thử lòng thầy trò, bèn giả vờ mình chưa hề về đến đạo quán, hỏi bốn người họ có đi ngang qua đạo quán hay không? Ngộ Không lại bắt đầu nói dối, rằng chúng tôi không đi ngang qua đạo quán của ngài.

Trấn Nguyên Tử muốn thử lòng thầy trò, bèn giả vờ mình chưa hề về đến đạo quán, hỏi bốn người họ có đi ngang qua đạo quán hay không?. (Ảnh: danviet.vn)

Trấn Nguyên Tử liền nổi giận, làm chuyện sai trái rồi, đã không thừa nhận lại còn nói dối nữa! Ngài vẫy tay một cái liền nhốt cả bốn thầy trò vào túi áo, đưa về đạo quán.

Trói bốn thầy trò, Trấn Nguyên Tử trách mắng Đường Tăng không biết dạy đồ đệ, lại vung mạnh cây roi muốn đánh đòn.

Tuy ăn trộm nói dối là thói quen của loài khỉ, nhưng nếu không tránh được thì cũng không thể làm liên lụy tới sư phụ mình, không thể để sư phụ vì mình mà bị đòn roi. Tôn Ngộ Không nói chuyện này là bản thân tự quyết tự làm, hoàn toàn không liên quan đến sư phụ. Thấy con khỉ biết coi trọng nghĩa khí, Trấn Nguyên Tử liền cho phép y chịu đòn roi thay cho Đường Tăng.

Đánh Ngộ Không xong thì sắc trời cũng tối, Trấn Nguyên Tử cùng các đệ tử về phòng nghỉ ngơi. Ngộ Không lại dùng thần thông, biến bốn cây cọc gỗ hóa thành hình tượng của bốn người, đưa sư phụ và hai sư đệ bỏ trốn trong đêm.

Ngày hôm sau, Trấn Nguyên Đại Tiên lại rượt đuổi theo. Ba huynh đệ Ngộ Không, người dùng gậy, người dùng cào, người dùng xẻng cùng xông lên, dùng hết bản lĩnh bình sinh, nhưng vẫn bị Trấn Nguyên Đại Tiên nhốt trong túi áo, đem về Ngũ Trang quán.

Trấn Nguyên Đại Tiên quyết định chiên dầu Tôn Ngộ Không, nhưng Ngộ Không lại dùng thần thông đem sư tử đá ngoài cổng biến thành hình dạng của mình, quẳng vào trong vạc dầu, khiến cho cái vạc bị đập thủng.

Trấn Nguyên Tử thấy không bắt được Tôn Ngộ Không, lại đổi sang một vạc dầu khác, ra lệnh luộc Đường Tăng.

Ngộ Không thấy sư phụ sắp bị luộc, vội vàng cầu xin Trấn Nguyên Đại Tiên, nói bản thân mình đã sai, hứa sẽ đi bù đắp, chỉ xin đừng làm khó Đường Tăng nữa.

Ngộ Không đi khắp tam đảo mười châu, cuối cùng được Quan Âm Bồ Tát giúp cứu sống cây nhân sâm. Theo lời giao ước, Trấn Nguyên Đại Tiên đã kết bái huynh đệ cùng với Tôn Ngộ Không. Thầy trò bốn người lại tiếp tục lên đường.

Trấn Nguyên Đại Tiên chỉ vì một cái cây mà làm lớn chuyện đến như vậy, rốt cuộc là do đâu?

Trong Tây Du Ký truyện sáng tác bởi Dương Chí Hòa đời nhà Minh có một đoạn như sau:

“Tam Tạng nghe nói, nước mắt tuôn trào. Hành Giả nói khẽ: ‘Đừng sợ, để con giải quyết cho’. Nhổ bốn cọng lông, biến thành hình dạng bốn người, còn chân thân của thầy trò họ lại một mạch bỏ đi. Đi một ngày, Hành Giả sợ đánh bị thương cái thân giả của mình, liền thu sợi lông về.

Vị Đại Tiên thấy bốn người biến mất không còn tung tích đâu nữa, liền than rằng: “Con khỉ này từng đại náo thiên cung, quả thật bản lĩnh không tầm thường. Ta không thể dung túng cho nó, tránh ngày sau gây thành họa lớn, trước mắt vẫn là đuổi theo, bắt nó về hỏi tội”. Liền cưỡi mây đuổi theo, lại lấy áo cà sa bắt gọn bốn người, mang về trong quán. Dặn đồ đệ lại lấy chiếc áo tơ tằm trói chặt bốn người lại, không sót kẽ hở nào, đốt một vạc dầu, muốn nấu chết bốn người”.

Thì ra vị Trấn Nguyên Đại Tiên này không phải cố ý tìm cớ, mà là dùng tâm thái người qua đường giúp bốn thầy trò hiểu được đạo lý.

Trấn Nguyên Tử muốn mục đích là để 4 thầy trò hiểu rõ đạo lý thì mới tới Tây Thiên gặp Phật tổ được. (Ảnh: tintuc24h.info)

Tôn Ngộ Không từng đại náo thiên cung, như vậy trên thân đã mang theo thói xấu. Giờ muốn đến Tây Thiên, mang theo những thói xấu này sao có thể đến Linh Sơn được? Vậy nên Trấn Nguyên Tử đã dứt khoát không bỏ qua lỗi lầm, mục đích là để Tôn Ngộ Không hiểu rõ đạo lý ấy. Đồng thời, cũng là để Đường Tăng hiểu rằng, dẫn dắt tốt đồ đệ là trách nhiệm của bản thân, nếu đồ đệ làm chuyện xấu thì bản thân sư phụ cũng phải chịu trừng phạt.

Đường Tăng thấy Tôn Ngộ Không gây họa rồi lại bỏ trốn, không những không quản giáo học trò mà còn bỏ trốn theo. Thân làm sư phụ, sao có thể hành xử như vậy được? Nếu không trải qua bài học ở Ngũ Trang quán lần này, thì danh hiệu sau này của Thánh tăng Đại Đường hẳn cũng sẽ không cách nào vang dội như vậy nữa.

Theo Soundofhope
Vũ Dương biên dịch

Trời đất sinh ra vạn vật, nên vạn vật tất nhiên chịu ảnh hưởng của trời đất. Thực vật biến đổi theo sự thay đổi của bốn mùa rồi lặp lại. Động thực vật và nhân loại cùng sống trên Trái đất, cũng nhất định chịu sự ảnh hưởng của sự thay đổi ngày đêm, bốn mùa, năm tháng. Vạn sự vạn vật đều nằm trong mối quan hệ qua lại.

Năm tháng tạo ra vòng đời trong thân cây, và cũng để lại vết tích trong cơ thể người như vậy. Có thể nói, tất cả sinh vật trên trái đất đều chịu ảnh hưởng của “Trái đất quay quanh Mặt trời, Mặt trăng quay quanh Trái đất”, đó cũng chính là ‘Thiên Nhân hợp nhất’.

1. Chu kỳ 7 ngày – Một trong những chu kỳ cơ thể người

Phương Tây cận đại mới phát hiện ra đồng hồ sinh học cơ thể người. Tuy nhiên, sách “Hoàng Đế nội kinh” 2.500 năm trước đã mô tả chi tiết về sinh lý cơ thể người, về chu kỳ ngày đêm của bệnh lý, chu kỳ 7 ngày, chu kỳ 4 mùa, chu kỳ năm, chu kỳ 60 năm và chu kỳ 360 năm.

Lấy chu kỳ 7 ngày mà nói, Trương Trọng Cảnh viết trong “Thương hàn luận” rằng, nếu bị ngoại cảm phong hàn, cho dù không điều trị, chỉ cần không có biến chứng hay bội nhiễm, thông thường 7 ngày có thể không chữa mà tự khỏi. Nếu 7 ngày không khỏi thì bệnh sẽ kéo dài theo bội số của 7, tức 14 hoặc 21 ngày. Quy luật này gọi là chu kỳ 7 ngày.

Chu kỳ mang thai của người và động vật đều là bội số của 7:

Gà ấp trứng: 7×3 = 21 ngày
Mèo mang thai: 7×9 = 63 ngày
Thỏ mang thai: 7×4 = 28 ngày
Hổ mang thai: 7×15 = 105 ngày
Người mang thai: 7×40 = 280 ngày
Chu kỳ 7 ngày hình thành như thế nào?

Nó hình thành do chịu tác động chung của cả Mặt trăng và Mặt trời. Âm lịch (lịch truyền thống của phương Đông) một tháng có 28 ngày, một tháng có 4 con nước thủy triều, 28 chia 4 bằng 7, tức 7 ngày. Vì đại bộ phận cơ thể người là do nước cấu thành, do đó chu kỳ 7 ngày của cơ thể người cũng có thể coi là chu kỳ của con nước thủy triều. Đây chính là thiên nhân hợp nhất.

(Ảnh dẫn theo tumblr.com)

2. Con người là một phần tử của tự nhiên, tất nhiên tuân theo quy luật của tự nhiên

Các mùa khác nhau, con người cần ăn uống khác nhau thì mới điều tiết cân bằng âm dương trong cơ thể. Giống như tự nhiên, cơ thể người cũng tuân theo quy luật Xuân phát, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng (mùa Xuân bắt đầu nảy mầm, mùa hè sinh trưởng nhanh, mùa Thu thì thu hoạch, mùa Đông tàng trữ).

3. Điều dưỡng ngũ tạng có thể thay đổi tính cách

Sự thay đổi của nội tạng cũng thay đổi tính cách, tiếp đến sẽ thay đổi dung mạo. Ngược lại thông qua thay đổi dung mạo có thể đoán được tình trạng bệnh của cơ quan nội tạng. Nội tạng và diện mạo chính là hình thức và nội dung, cũng giống như quá trình một quả trứng gà được ấp thành gà con, bên trong và bên ngoài là có mối liên hệ, đó là quan hệ hình thức và nội dung.

Do đó Trung y có thể căn cứ vào vẻ bề ngoài của bạn, thông qua ‘tứ chẩn’ nhìn, nghe hỏi, sờ để phán đoán tình trạng bệnh của bạn. Người trình độ cao, có thể phán đoán sự đầy đủ hay thiếu hụt chức năng nội tạng thông qua diện mạo của bạn; lại thông qua trạng thái chức năng nội tạng để phán đoán tính cách và nhân phẩm. Huyền diệu hơn thì có thể xem tướng đoán mệnh.

Tính cách con người ảnh hưởng đến trạng thái bệnh tật nôi tạng, ví như: “Nộ thương can, hỷ thương tâm, ưu thương phế, tư thương tỳ, khủng thương thận, phản chi diệc nhiên” (Giận dữ hại gan, vui quá hại tim, lo buồn quá hại phổi, suy nghĩ quá hại lá lách, sợ hãi quá hại thận, và ngược lại).

Điều dưỡng ngũ tạng có thể thay đổi tính cách. Vận mệnh và tướng mạo không phải là bất biến, tướng tùy tâm sinh, cũng do tâm mà thay đổi.

(Ảnh dẫn theo kienthuc.net.vn)

4. Tại sao phải tu thân?

Lão Tử nói: “Tu chi thân, kỳ đức nãi chân”, ý rằng người tu thân thì đức của họ mới chân thật.

Thông qua tu thân, thay đổi tính cách, điều dưỡng các nội tạng, từ đó có thể đạt được trạng tái Thân – Tâm đều mạnh khỏe. Thân tâm mạnh khỏe ngược lại giúp các cơ quan nội tạng được điều dưỡng, mà nội tạng lại quyết định tính cách, lời nói và hành động của một người, phát ra từ bên trong ra ngoài, cái đức đó mới chính là chân thật.

Do vậy mới nói tướng tâm có thể bù đắp sự thiếu hụt của tướng mặt.

Học sinh ngày nay có thể gọi là ‘người đọc sách’ được không?

Người cổ đại nói “người đọc sách”, là nói đến những người có tu dưỡng. Vậy học sinh ngày nay có thể gọi là “người đọc sách” không?

Người ngày nay đọc sách mười mấy năm, sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học, mà ăn nói và hành động vẫn chưa bằng người học văn hóa truyền thống 2 năm.

Đây chính là một vấn đề nổi cộm trong giáo dục. Quả thực là người hiện đại ngày nay vứt bỏ văn hóa truyền thống, đã không biết “tu thân mới là cái gốc của giáo dục”.

Sự việc có gốc có ngọn, tu thân là gốc của giáo dục

Người xưa không phải là không học tri thức, mà là học có thứ tự, có gốc có ngọn. Trong Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, thì trước tiên học Nhân, Nghĩa, Lễ. Sau khi có Đức, rồi mới học Trí. Không có Đức chỉ học mỗi Trí, có thể sẽ sẽ làm loạn xã hội. Sau khí có Trí rồi lại nói đến Tín. Và không phải là với ai cũng nói chữ Tín, cần phải có khả năng phán đoán.

(Ảnh dẫn theo chatdem.net)

5. Làm thế nào có thể tu thân?

Phương pháp tu thân rất nhiều: Đọc kinh điển, âm nhạc, lao động, thiền định, châm cứu, Đông y, ẩm thực… Người xưa tu thân rất toàn diện, bao gồm: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số (lễ, nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, thư pháp, toán số).

6. Lễ nhạc truyền thống có thể khai mở trí huệ

Tại sao quân tử thời cổ đại coi Kinh Thi là một trong các kinh điển bắt buộc phải đọc?

Người hiện đại đã không còn hiểu đạo “thiên nhân hợp nhất” của người xưa, và cũng không hiểu các biện pháp cụ thể để tu thân. Khi nói đến “Thiên nhân hợp nhất”, lý giải cũng hết sức nông cạn, và coi Kinh Thi là môn học trẻ con.

Thực ra rất nhiều thơ, từ, văn chương cổ đại, bao gồm Kinh Thi, đọc nhiều thì có lợi cho thân tâm khỏe mạnh, gián tiếp điều dưỡng nội tạng, đạt được hiệu quả tu thân.

Điều quan trọng hơn là, Kinh Thi có thể hát được, có âm nhạc, có điệu khúc. Đáng tiếc là các điệu khúc âm nhạc này đã thất truyền rồi!

Âm nhạc có thể tu thân, có thể thay đổi tính cách con người, có thể điều dưỡng nội tạng. Ngày nay phương Tây mới biết phương pháp trị liệu âm nhạc, còn cổ nhân Trung Quốc mấy nghìn năm trước đã biết phương pháp này. Từ Kinh Thi, Sở Từ, Hán Phú, đến Đường Thi, Tống Từ đều có thể hát, đều là âm nhạc, là các điệu khúc.

Âm nhạc có thể khai mở trí huệ

Âm nhạc không những có thể điều dưỡng nội tạng con người, đạt được hiệu quả tu thân, ngoài ra nó còn có thể khai mở trí huệ. Đây cũng là nguyên nhân Trung Quốc cổ đại từ đời Tống về trước, các phát minh sáng tạo liên tiếp ra đời. Triều Thanh vứt bỏ và phá hoại truyền thống văn hóa Trung Quốc, áp dụng văn hóa du mục lạc hậu, âm nhạc cũng trụy lạc, cũng là một trong các nguyên nhân tạo ra một xã hội ủy mị.

Đối với phương Tây cũng như vậy. Văn hóa châu Âu thời Phục Hưng cũng hưng thịnh nhờ phục hưng âm nhạc cổ điển.

Không phải tất cả âm nhạc đều có thể tu thân

Âm nhạc có thể khai trí là hiên tượng phổ biến, nhưng không phải tất cả âm nhạc đều có thể tu thân. Lý do chế độ lễ nhạc triều Chu có thể tu thân là ở chỗ, nó là “Lễ nhạc”, chứ không phải là âm nhạc đồi trụy, đáng tiếc là đã thất truyền rồi!

Âm nhạc có thể khai trí, người hiện đại mới dần dần nhận thức được, do đó giáo dục thai nhi cho nghe âm nhạc mới dần dần thịnh hành, nhiều nhà khoa học nảy ý tưởng linh cảm cũng từ âm nhạc.

Một số âm nhạc nghiêm túc cũng có thể giáo hóa người phương Tây, nhưng rất nhiều âm nhạc dâm loạn gây bất lợi cho tu thân, một số âm nhạc làm cho con người nảy sinh lòng tà dâm, làm việc xấu.

7. Tu thân bắt đầu từ thai nhi, và theo cả cuộc đời

Giáo giục thai nhi cho nghe âm nhạc tốt, không chỉ khai trí mà còn giúp thai nhi phát triển khỏe mạnh cả thân và tâm. Sau khi ra đời cần “não ngủ”, não cần ngủ cho đúng, thì ngũ quan mới đoan trang. Ngũ quan đoan trang không chỉ dung mạo đẹp, mà còn giúp cho bé có tính cách tốt.

Khi học tập nghe âm nhạc, hiệu quả học tập cũng nâng cao. Nghe nhạc làm việc, công việc sẽ nhẹ nhàng thoải mái, lao động thể lực cũng sẽ thành không quá mệt nhọc. Nhà khoa học nghe nhạc thì ý tưởng, linh cảm càng nhiều.

8. Rèn luyện võ thuật cũng có thể đạt được hiệu quả tu thân

Tại sao nói cái đạo võ thuật, một căng một chùng? Bởi vị nó có thể tu thân dưỡng tính, chỉ là phương pháp khác nhau.

Những người có bản tính yếu ớt nhút nhát, nhờ rèn luyện võ thuật, có thể điều dưỡng nội tạng, tăng cường can đảm, bởi luyện võ sẽ tăng tinh, khí, thần.

Kỳ thực, trị bệnh quan trọng nhất là rèn luyện thân thể có tính nhắm thẳng vào rèn luyện thân thể, đạt được hiệu quả nâng đỡ cái chính, loại bỏ cái tà. Chỉ cần không phải bệnh cấp tính, thì lấy rèn luyện là chính, uống thuốc là phụ. Nhưng bởi vì rèn luyện không kiếm ra tiền nên xã hội dần dần hình thành uống thuốc là chính vậy!

(Ảnh dẫn theo iVIVU.com)

9. Tại sao phải khôi phục trang phục truyền thống?

Trang phục khác nhau sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, từ đó sẽ ảnh hưởng đến tính cách của một người.

Vì trang phục sẽ ảnh hưởng đến tính cách con người, cũng giống như môi trường sẽ ảnh hưởng đến hành vi con người. Do đó trang phục sẽ ảnh hưởng đến diện mạo thinh thần, còn có thể ảnh hưởng đến cách nhìn, thái độ người xung quanh đối với bạn.

Người hiện đại lấy trang phục triều Thanh coi là trang phục truyền thống Trung Hoa, như vậy thật là xấu hổ khi gọi là dân tộc Hoa Hạ! Trang phục triều Hán truyền thống phiêu diêu thoải mái, có lễ có tiết, mặc lên thấy nho nhã, diện mạo tinh thần cũng tốt. Còn mặc sườn xám, bikini, váy ngắn, sẽ sinh lòng tà dâm, không nghiêm túc đoan trang.

Hãy xem trang phục phụ nữ hiện đại, chỗ nào hở được đều hở hết, chỗ không được hở cũng hở. Đây là chịu ảnh hưởng văn hóa khêu gợi của phương Tây. Do đó trong suốt mấy nghìn năm nay, thời bấy giờ hành vi tình dục nam nữ thanh niên hiện đại là loạn nhất, lễ tình nhân, tình một đêm, tình trên mạng, tình vụng trộm v.v…, không cho là sỉ nhục lại còn cảm thấy vẻ vang, về cơ bản là đã bị man di mọi rợ hóa rồi.

Búi tóc thời xưa có gì tốt?

Lấy búi tóc nam giới mà nói, quấn chặt tóc trên đỉnh đầu, có cảm giác thần tịnh khí khái, sẽ làm cho người ta vứt bỏ phiền toái, tinh thần sung mãn. Quá trình dùng sức quấn, vấn tóc cũng chính là mát xa các mạch lạc huyệt vị trên đầu. Nói không quá chút nào, kiểu tết tóc người xưa này có thể nâng cao tinh, khí, thần của con người.

Trang phục của một người sẽ ảnh hưởng đến diện mạo tinh thần của họ, trang phục dân tộc của một dân tộc, cũng ảnh hưởng đến văn hóa dân tộc đó.

“Hoàng đế nội kinh” viết: “Người với trời đất tương tham (tham gia, tham dự vào nhau), với nhật nguyệt tương ứng (ứng với thay đổi, chu kỳ mặt trăng, mặt trời)”. Đáng tiếc là người hiện đại vứt bỏ văn hóa truyền thống đã không còn hiểu được, thiên nhân hợp nhất là trí huệ lớn.

Tại sao người cổ đại vượt xa thế giới? Vậy hãy hỏi vì sao kênh nước được trong như thế, chỉ vì có nguồn nước chảy về. Văn hóa truyền thống là văn hóa tu thân, cái thân tu luyện thì cái đức mới chân thật. Văn hóa truyền thống đi vào gốc rễ thì Đạo sinh trưởng, có như vậy một dân tộc mới phát triển trường tồn.

Theo secretchina.com
Nam Phương biên dịch

Khi cha mẹ, người thân không ở bên, ai sẽ là người cứu giúp chúng ta khi hoạn nạn?

Dẫu cha mẹ thương con nhưng con cái cũng chẳng thể bé mãi. Sẽ có một ngày chúng ta lớn lên, rời xa vòng tay thân yêu của cha mẹ và cất cao đôi cánh tự mình bay về khung trời mơ ước.

Chúng ta đều luôn mong ước gia đình và bản thân mình sẽ gặp nhiều may mắn và hạnh phúc trong đời, chí ít là được sống một cuộc đời yên bình và êm ả. Nhưng sự đời mấy khi đã chiều lòng người. Cuộc đời như dòng sông quanh co, khúc khuỷu luôn khát khao tìm về biển cả. Trên hành trình ấy, có thể sẽ gặp phải muôn vàn ngăn trở bởi non cao, đất dày.

Chúng ta cứ mải miết với cuộc sống mưu sinh và những hoạch định cho cuộc sống tương lai của mình. Cho đến một ngày khi đại sự chẳng như ý bất ngờ xảy ra… Khi ấy những người thân yêu trong gia đình liệu có kịp đến bên chúng ta? Hay chỉ là những người hàng ngày lướt ngang qua cuộc đời chúng ta, thậm chí còn chưa một lần gặp mặt ra tay cứu giúp?

Họ có thể là người ta chưa từng gặp gỡ, chưa hề quen biết

Mấy ngày nay, cư dân mạng xôn xao vì một chàng trai không biết danh tính vội lao mình xuống dòng sông cứu một cô gái muốn trẫm mình nơi đáy nước.

Chiều tối, một cô gái lòng trĩu nặng, mặt đầy âu lo một mình thơ thẩn đi men theo cây cầu Vạn Hà trên con sông nhỏ của mảnh đất Thanh Hóa. Giữa chốn đông người mà lòng cô lại thấy bơ vơ với bao mối ngổn ngang. Muốn sớm kết thúc những nỗi giày vò ấy, bất chợt cô gái bỏ lại túi xách và đôi dép trên cầu, gieo mình xuống sông tự vẫn.

Giữa ánh mắt thất thần bàng hoàng của những người qua đường, khi còn chưa biết mình sẽ phải làm gì tiếp theo, thì “Ùm” một tiếng xé mặt nước vang lên. Quay lại người ta chỉ thấy bóng một chàng trai mặc áo xanh đang quẫy nước ùm ùm, và chiếc xe máy dựng ngay trên cầu vẫn còn hơi nóng. Cậu lao mình giữ chặt cô gái đang chơi vơi giữa dòng nước và lấy hết sức đưa cô vào bờ.

Giữa dòng nước mênh mang, chàng trai gắng sức bơi, nhưng chưa kịp về đến bờ thì cậu cũng đuối sức. Như một sự sắp đặt kỳ diệu để những tấm lòng lương thiện gặp nhau, vừa đúng lúc đó một chiếc thuyền đã xuất hiện ngay trước mặt chàng trai và cô gái. Lúc này đây những người cô gái chưa từng gặp, chưa từng quen đã mang cô từ cõi chết trở về.

Chàng trai lương thiện không quản nguy hiểm lao mình xuống dòng nước và cứu cố gái vào bờ. (Ảnh: zing.vn)

Khi chàng trai được hỏi, lúc nhảy xuống nước cậu nghĩ gì? Chàng trai có lẽ lúc ấy còn chưa kịp suy nghĩ đến chuyện sống chết, chỉ đơn giản nghĩ rằng mình biết bơi! Phải chăng đó là một thứ bản năng của sự lương thiện đã mách bảo cậu làm vậy?

Họ có thể chỉ là những con người bình dị mà chúng ta thấy mỗi ngày

Hay giữa một đêm cũng tưởng như sẽ bình yên như bao đêm khác. Khi người dân tại khu chung cư cao cấp Carina Plaza tại Sài Gòn còn đang say trong giấc nồng thì ngọn lửa dữ từ tầng hầm bốc lên ngùn ngụt. Ngọn lửa lan ra khắp nơi và khói độc tỏa ra nghi ngút lên cả các tầng phía trên.

Khi biết khả năng dập lửa không thành và hệ thống báo cháy không hoạt động, nhóm bảo vệ trực đêm hôm đó đã hớt hải tự mình đi gõ cửa nhà dân báo cháy. Ngọn lửa bùng cháy dữ dội khiến nhiều mảng bê tông bị sụp xuống, hàng trăm người bị mắc kẹt bên trong la hét, kêu cứu.

“Chứng kiến cảnh các em bé, người già kêu cứu chúng tôi không đành lòng. Cứu người lúc này không còn vì trách nhiệm với công việc nữa. Thà chúng tôi chết chứ không bỏ mọi người” – Đó là những lời tâm sự chân thành của cậu bảo vệ tên Sang và các bạn đồng nghiệp khiến khóe mắt chúng ta đột nhiên thấy cay cay.

Anh Trần Văn An cũng dũng cảm đến kêu cửa từng phòng, báo cháy cứu người dân nhưng khi đến tầng 5 thì chính anh lại bị ngạt thở và tạ thế. Lẽ ra hôm sau sẽ là ngày nghỉ phép của anh, nhưng thật không ngờ đêm kinh hoàng hôm ấy lại là đêm cuối cùng anh còn trên thế gian.

“Chú An cứu được một nhà, đưa ra bên ngoài rồi thì nghe tiếng nhiều người khác cầu cứu nên chú quay trở lại. Trong khoảnh khắc quay lại đó, khói bốc lên dày đặc, chú bị ngợp thở và gục xuống”. Gia An nghẹn ngào kể lại. Độc giả hay tin không khỏi xúc động, cay cay nơi sống mũi, đo đỏ nơi khóe mi, cố kìm nén sự xúc động trước sự quả cảm và hy sinh của anh An.

Cũng có người nói: “Thằng An nó khờ quá, tính mạng mình không giữ mà còn đi lo cho người khác”. Xưa có câu: “Chết vinh còn hơn sống nhục”. Kẻ trượng nghĩa luôn đặt hạnh phúc và sự bình yên của người khác lên trên mà sẵn sàng hiến dâng những gì quý giá nhất, thậm chí cả mạng sống của mình. Nhờ sự quả cảm ấy, anh An đã giúp được 40 người bảo toàn sinh mệnh an toàn ra khỏi đám cháy rực lửa. Cha mẹ, vợ chồng, con cái, bè bạn của 40 người ấy cũng thầm cảm ơn anh đã xả thân cứu giúp người thân của mình.

Nhờ sự quả cảm ấy mà biết bao nhiêu người được cứu sống rồi thầm cảm ơn anh đã xả thân cứu giúp người thân của mình. (Ảnh: voatiengviet.com)

Có những cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng cũng có những cuộc ra đi trĩu nặng ngàn cân. Người dẫu khuất bóng nhưng vẫn luôn sống mãi trong lòng những người ở lại và thắp lên niềm tin yêu vào con người và cuộc sống.

Đôi khi “họ” lại là những chú cún cưng chúng ta chăm bẵm mỗi ngày

Gần 1h sáng, hai vợ chồng chị Hồng vẫn đang say giấc trên tầng 16 của tòa chung cư Carina Plaza cao cấp thì bỗng thấy chú chó tên Kem, thuộc giống Poodle, sủa ầm ĩ không dứt. Chú trèo cả lên giường cào cấu, đánh thức chủ như muốn ra hiệu điều gì. Lúc đó vợ chồng chị mới phát hiện có sự cố.

Chưa dừng ở đó, khi chị Hồng bế Kem cùng với 3 thành viên còn lại của gia đình chạy ra ngoài hành lang, chị định bụng chạy xuống bằng lối cửa thoát hiểm. Bỗng nhiên Kem nhảy ra khỏi người chị, cắn áo kéo vào trong, rồi chạy một mạch vào nhà.

Chỉ đến khi thấy 2 con chạy ngược lên nhà, báo rằng phía dưới khói đặc quánh không thể đi tiếp, chị mới hiểu Kem muốn thông báo với chị điều gì.

Không chỉ riêng chú chó Poodle của chị Hồng, một chú chó Alaska cũng đã cứu sống gia đình chủ của mình tại toà chung cư này. Tầm 2 giờ sáng, khi đánh hơi được mùi khen khét từ đám cháy, Xuka dường như hiểu rằng chuyện bất trắc đã xảy ra. Xuka nghĩ ngay đến chủ của mình, cô bé gắng sức cào cửa rất mạnh và lớn tiếng, cố tình khiến cậu chủ và cô chủ đang mang bầu 5 tháng thức giấc, kịp tìm đường thoát thân. Nhờ sự thông minh của Kem và Xuka, 2 gia đình đã bình yên qua khỏi kiếp nạn.

Anh Danny Nguyễn chụp ảnh cùng chú chó cưng trước đó. (Ảnh: NVCC)

Cuộc đời vẫn thế, nghịch lý vẫn thường xảy ra: Khi gặp nạn người có thể cứu giúp chúng ta lại thường không phải những người thân yêu.

Có câu rằng: “Ở nhà nhờ cha mẹ, ra ngoài cậy bạn bè”. Cha mẹ dẫu thương con cũng chẳng thể lúc nào cũng ở bên con mình từng phút từng giây. Dẫu là vợ là chồng, là những người thân yêu nhất thì ai nấy đều có các mối quan hệ và cuộc sống của riêng mình. Chẳng ai biết chính xác khi nào và ở đâu sẽ xảy ra chuyện gì bất trắc với bản thân.

Vậy nên, để chính mình có thể yên lòng sống giữa cuộc đời này, hãy giúp đỡ những người xung quanh mình. Bởi lẽ “Ở hiền gặp lành”, ta giúp người gặp khó nạn, đến khi mình gặp phải sóng gió, chông gai ông Trời lại phái các “Mạnh Thường Quân” ra tay cứu giúp. Những người thân yêu của mình cũng được nhờ phúc đó mà thường gặp được “quý nhân phù trợ”.

Thấy người gặp nạn chớ lướt ngang qua họ. Bởi lẽ lỡ sau này chúng ta thế vào vị trí cần cứu giúp ấy e rằng chỉ nhận được ánh mắt thờ ơ và sự bàng quan lạnh lùng của người đời mà thôi. Giúp người là giúp chính mình, hành bao nhiêu thiện, tích bao nhiêu đức cuối cùng may mắn lại quay về bản thân ta mà thôi. Có thể phúc chẳng được hưởng đời này thì lại được chuyển sang đời sau, cuộc sống vẫn luôn giữ lẽ công bằng là vậy.

Bởi lẽ con người vốn vẫn thường ngụp lặn trong sáu nẻo luân hồi, mỗi lần chuyển sinh lại uống bát canh Mạnh Bà quên lãng nên mới không nhìn thấy nhân duyên, nhân quả trong đó mà thôi.

Đỗ Quyên

Một lần, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến nước Ma Kiệt Đà truyền Pháp, cứu độ chúng sinh. Khi đó Ngài ở trong núi Ma Cưu La, đệ tử hầu cận bên cạnh Ngài không phải là tôn giả A Nan, mà là Na Già Ba La.

Một ngày kia, trời đã chạng vạng tối, trên bầu trời mưa bụi tung bay, lâu lâu lại có tia chớp lóe lên. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn ở bãi đất trống bên ngoài và đang thực hành một loại phương pháp gọi là “Kinh hành” trong Phật giáo đương thời.

Lúc này, một vị Thần ở không gian khác đến bái kiến Đức Phật Thích Ca và đi theo sau Ngài. Đức Phật vì để cấp cho vị Thần đó nhiều cơ hội hơn, nên thời gian đi bộ hôm ấy lâu hơn ngày thường khá nhiều. Na Già Ba La không nhìn thấy vị Thần đang đi theo sư phụ, bởi vậy bèn thắc mắc vì sao Ngài lại đi bộ muộn hơn ngày thường đến như vậy. Theo thông lệ thời đó, đệ tử theo hầu sư phụ phải đợi đến khi sư phụ tọa thiền xong rồi mới được phép đi ngủ, vậy nên Na Già Ba La mãi không cách nào đi ngủ được.

Bởi cảm thấy quá mệt mỏi, Na Già Ba La bắt đầu nghĩ cách khiến thầy mau chóng dừng lại, để mình có thể sớm đi ngủ. Lúc đó, tại nước Ma Kiệt Đà, khi những đứa trẻ quấy khóc giữa đêm mà không chịu dừng lại, người lớn sẽ nói: “Quỷ núi Ma Cưu La sắp đến rồi!”, con trẻ nghe thấy sẽ sợ hãi không dám kêu khóc nữa. Na Già Ba La không ngờ lại suy nghĩ viển vông, muốn cải trang thành quỷ Ma Cưu La để hù dọa thầy, khiến thầy sợ hãi mà dừng thực hành môn “kinh hành” của hôm nay. Thế là, Na Già Ba La liền lấy một tấm áo lông khoác lên người, giả trang thành quỷ Ma Cưu La mọc đầy lông lá, sau đó núp ở đoạn cuối con đường nhỏ, chuẩn bị hù dọa sư phụ.

Khi Đức Phật Thích Ca đến nơi, Na Già Ba La liền nhảy ra, lớn tiếng kêu lên: “Quỷ Ma Cưu La đến rồi! Quỷ Ma Cưu La đến rồi!”.

Đức Phật Thích Ca không chút sợ hãi, bèn nghiêm giọng nói với Na Già Ba La rằng: “Na Già Ba La, cái đồ xuẩn ngốc nhà ngươi, muốn lấy bộ dạng của quỷ Ma Cưu La để hù dọa Như Lai ư? Trò đó không dao động được dù chỉ là một sợi tóc của ta, ta đã cách nỗi sợ hãi rất lâu rồi”.

Lúc này, vị Thần đi theo phía sau Đức Phật nói với Ngài rằng: “Trong tăng đoàn cũng có loại người này ư?”.

Đức Phật từ bi nói: “Cửa Phật rộng lớn, có thể bao dung tất cả, người giống như Na Già Ba La đây, không lâu cũng sẽ ngộ được diệu pháp thanh tịnh, có thể đạt được giải thoát. Vậy nên không thể chỉ bởi hành vi sai lầm nhất thời mà khinh thường y được”.

Vị Thần của không gian khác nghe thấy vậy, cũng cảm động rơi lệ trước tấm lòng từ bi của Đức Phật.

Vị Thần của không gian khác nghe thấy vậy, cũng cảm động rơi lệ trước tấm lòng từ bi của Đức Phật. (Ảnh: buddhanet.net)

Về sau, Na Già Ba La quả nhiên đã không phụ tấm lòng từ bi của sư phụ, thật sự đã trở thành một đệ tử đạt được giải thoát.

Kỳ thật, Giác Giả vì để bảo vê chân lý Phật Pháp, vì để cứu vớt chúng sinh, mà có thể xả bỏ hết thảy mọi thứ, bao gồm cả sinh mệnh cao tầng vĩ đại của bản thân mình, và tất nhiên Phật không có tâm sợ hãi. Là đệ tử của Giác Giả trong quá trình tu luyện, cũng nhất định phải loại trừ tâm sợ hãi này.

Ngoài ra, từ câu chuyện chúng ta có thể thấy rằng, người tu luyện cũng có những lúc phạm phải sai lầm, thậm chí sai lầm một cách ngớ ngẩn, nực cười, thái quá. Nhưng Đại Giác Giả đại từ đại bi sẽ không vì vậy mà dễ dàng buông bỏ đệ tử của mình. Đại từ bi của Giác Giả, đó là điều vượt trên mọi khả năng tưởng tượng của con người chúng ta.

Theo Chánh Kiến
Phi Long biên dịch

Nói đến Tết Thanh Minh, người Việt hẳn ai ai cũng nảy ra mấy câu Kiều:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thanh minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Chỉ mấy câu thơ này của đại thi hào Nguyễn Du đã cho chúng ta biết một số thông tin sau:

“Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”: Mùa xuân 90 ngày, Thanh Minh là 60 ngày tính từ tiết Lập xuân (4-5 tháng 2), tức 4-5 tháng 4 (dương lịch), tức là vào khoảng tháng 3 âm lịch.

“Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”: Thanh Minh là ngày lễ “Tảo mộ” (quét dọn, vệ sinh, sửa sang mộ phần), ngày thờ cúng, tưởng nhớ ông bà tổ tiên. Nhưng cũng là ngày hội “Đạp thanh” (Bước đi trên cỏ xanh), có nghĩa đi du xuân, chơi xuân.

“Dập dìu tài tử giai nhân”: Lễ hội du xuân (đạp thanh) là lễ hội của tuổi trẻ, của các nam thanh nữ tú, của tài tử giai nhân.

Thanh minh trong tiết tháng Ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. (Ảnh: tuoitre.vn)

Nguồn gốc Tết Thanh Minh rất độc đáo, nó là kết hợp của hai lễ và một lễ hội. Tết Thanh Minh là một trong những ngày lễ tết truyền thống quan trọng của các nước Á Đông như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc. Ngoài ra nó còn lan ra một số nước Đông Nam Á khác như Singapore, Malaysia. Tết Thanh Minh có lịch sử lâu đời 2500 năm, khởi nguồn từ câu chuyện cảm động của bậc trung thần Giới Tử Thôi.

Tấn Văn Công bị thất sủng vì cha ông Tấn Hiến Công nghe theo lời mẹ kế. Ông phải sống cuộc sống lưu vong cực khổ 19 năm ròng, với vài tùy tùng. Có lần nhiều ngày không có đồ ăn, đói lả, Giới Tử Thôi (cũng có tên là Giới Chi Thôi), một tùy tùng của ông đã tự cắt thịt đùi mình nấu cho Tấn Văn Công ăn. Sau khi biết chuyện, Tấn Văn Công vô cùng xúc động, hứa sẽ hậu thưởng nếu sau này thành tựu nghiệp lớn.

Sau khi thừa kế ngai vàng, ông ban thưởng, phong tước cho tất cả mọi người theo ông, nhưng không hiểu vì sao lại quên mất Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không màng danh lợi, cõng mẹ vào núi Miên Sơn ẩn cư. Sau khi biết chuyện, Tấn Văn Công vô cùng hối hận, đích thân đến tìm Giới Tử Thôi, nhưng Miên Sơn kia, núi cao vút, đường hiểm trở, tìm người chẳng khác nào đáy biển mò kim.

Tấn Văn Công rầu rĩ thì có người hiến kế, đốt lửa 3 mặt núi, để một phía, Giới Tử Thôi ắt sẽ ra. Núi Miên Sơn lửa cháy ngút trời, suốt 3 ngày 3 đêm, đến khi cháy hết núi, Giới Tử Thôi vẫn tuyệt vô tông tích. Cuối cùng tìm thấy Giới Tử Thôi cõng trên lưng mẹ già, bị lửa thiêu chết dưới gốc một cây liễu.

Tấn Văn Công khóc đau đớn, rồi nhặt một khúc gỗ liễu cháy dở về cung làm đôi guốc đi, ngày ngày nhìn guốc than: “Bi thương làm sao túc hạ” (túc hạ nghĩa là dưới chân). Từ đó người ta dùng từ ‘túc hạ’ để thượng cấp xưng hô với hạ cấp, hoặc xưng hô giữa người bạn, biểu thị kính trọng.

Sau đó Tấn Văn Công để tưởng nhớ Giới Tử Thôi chịu lửa thiêu chết chứ không nhận bổng lộc, nên đã lấy ngày giỗ Giới Tử Thôi làm ngày lễ Tết Hàn Thực (ăn thức ăn nguội), bách tính không đốt lửa, ăn toàn đồ ăn nguội.

Khi Giới Tử Thôi chết, thân che một cái hang, trong hang là bức huyết thư ông để lại cho Tấn Văn Công, dùng máu viết lên vạt áo:

Cắt thịt dâng vua tỏ trung trinh,
Chỉ nguyện vua sáng mãi thanh minh.
Tuy chết gốc cây không gặp mặt,
Hơn làm can gián chốn cung đình.

Chúa công trong lòng còn nhớ tới,
Mong vua thường xét chính lòng mình.
Thần nơi chín suối lòng không thẹn,
Triều chính thanh minh lại thanh minh.

Tảo mộ ở chân núi. (Ảnh: xinchan.com)

Tấn Văn Công luôn giữ bức thư trong tay áo, ngày ngày xem lại để răn mình, lo việc triều chính, lo cho bách tính, luôn luôn giữ cho được thanh minh (tâm thanh khiết, óc minh mẫn).

Sang năm thứ hai, sau Tết Hàn Thực một ngày, Tấn Văn Công và quần thần mặc tang phục lên núi tế lễ Giới Tử Thôi, quét dọn sửa sang mộ phần. Từ đó thành tục lệ “Tảo mộ” (quét dọn mộ phần) và Tết Thanh Minh cũng ra đời.

Còn lễ thứ ba, là Tết Thượng Tỵ, là lễ tết vào ngày Tỵ đầu tiên của tháng 3 âm lịch. Tương truyền đây là ngày sinh của Hiên Viên Hoàng Đế, vì vậy người Hán lễ bái tổ tiên vào ngày này, sau đó phong tục lễ bái tổ tiên này được lan ra khắp các nước Á Đông.

Lễ Thượng Tỵ cũng có tên là lễ Phất hệ, tức lễ tắm gội để trừ tai họa cầu phúc. Sách “Hậu Hán thư” có chép: “Ngày Thượng Tỵ tháng này (tức tháng 3 AL), quan dân đều tắm gội sạch sẽ ở trên sông phía đông, gọi là tẩy sạch cáu bẩn, bệnh tật cũ”. Sau này người ta ghép hai lễ Hàn Thực và Thượng Tỵ vào làm một ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch, còn gọi là Tết Trùng Tam.

Lễ Trùng Tam này còn gắn liền với một lễ hội, có thể coi là Lễ Hội Tình Nhân sớm nhất trên thế giới, được đại thi hào đời Đường Đỗ Phủ viết:

Tam nguyệt tam nhật thiên khí tân,
Trường An thủy biên đa lệ nhân.

Dịch thơ:

Ngày ba tháng ba khí sắc xuân,
Sông nước Trường An lắm mỹ nhân.

Lễ Thượng Tỵ này, mọi người đều ra sông tắm gội, cũng là dịp nam thanh nữ tú giao lưu, bày tỏ tình cảm, là ngày lễ hội của nam nữ, như ngày Valentine ngày nay vậy.

Trong những ngày lễ Thượng Tỵ, trẻ con được tắm sông vui đùa thỏa thích. (Ảnh: talkvietnam.com)

Sau này đến đời Tống, tư tưởng Nho gia trở lên nghiêm khắc hơn, nên không còn cảnh mọi người ra sông tắm gội, không còn nam thanh nữ tú hẹn hò, dần thay đổi thành nam thanh nữ tú đi chơi xuân, du xuân mà thôi. Đó cũng chính là quang cảnh mà Nguyễn Du tả:

Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Lễ Tình nhân phương Đông cuối cùng thành lễ hội chơi xuân của nam thanh nữ tú, còn gọi là hội “Đạp thanh”. Thời xưa “hội là đạp thanh” có rất nhiều trò chơi, nam nữ thanh niên cùng nhau du xuân và chơi các trò đu quay, đá cầu, du xuân, trồng cây, thả diều, chọi gà, đua thuyền, bắn tên, đấu vật, ca múa, đi cà kheo v.v…

Đến nay, bao nhiêu lễ hội đã mai một, cuối cùng chỉ còn lại lễ thờ cúng tổ tiên và tảo mộ. Những lễ hội xuân truyền thống đẹp đã bị mai một, tuy cũng có nơi có khôi phục, nhưng thường manh mún, và không gắn với ngày “Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh” đậm chất văn hóa truyền thống này.

Nam Phương