Tượng dê tiền, Dê Tiền phong thủy, vật phẩm phong thủy mang lại tài lộc, may mắn
Tượng dê tiền, Dê Tiền phong thủy, vật phẩm phong thủy mang lại tài lộc, may mắnTượng dê tiền, Dê Tiền phong thủy, vật phẩm phong thủy mang lại tài lộc, may mắn

Tượng dê tiền bằng đồng lông đồng tiền, Dê Tiền phong thủy

750,000 

Kích thước cao 12cm, dài 14cm, được đúc từ đồng nguyên chất

Màu sắc: Đỏ mắt cua
Hình tượng dê được đắp tiền vàng xung quanh người, thể hiện sự may mắn về tài lộc, mang lại ý chí phấn đấu kiếm tiền khi mỏi mệt.

còn 5 hàng

Mô tả sản phẩm

Kích thước cao 12cm, dài 14cm, được đúc từ đồng nguyên chất

Màu sắc: Đỏ mắt cua
Hình tượng dê được đắp tiền vàng xung quanh người, thể hiện sự may mắn về tài lộc, mang lại ý chí phấn đấu kiếm tiền khi mỏi mệt.

 

Ý nghĩa phong thủy của dê:

 

Mặc dù không phải là con vật có công dụng mạnh mẽ trong việc chiêu tài hóa sát, nhưng bạn vẫn có thể bài trí biểu tượng dê trong nhà để thu hút vận may.

Khi công việc của bạn không thuận lợi hoặc bạn bị nhiều điều thị phi của tiểu nhân, hãy sử dụng biểu tượng dê hóa giải tình trạng trên. Trong 12 con giáp, dê được xem là biểu tượng của tính ôn hòa, thuần hậu nhưng cũng không kém phần nhanh trí.

Cũng như bức tranh dân gian “Tam dương khai thái”, tượng dê cũng nên được bài trí 3 con. Nên lựa chọn dê với chất liệu bằng vàng, mạ vàng hoặc đồ chế tác bằng gốm sứ.

Theo quan niệm dân gian, đặt biểu tượng con dê ở 2 bên đầu giường của người ốm có tác dụng mang lại sức khỏe và giúp người bệnh hồi phục nhanh chóng.

Khi công việc của bạn không thuận lợi hoặc bạn bị nhiều điều thị phi của tiểu nhân, hãy sử dụng biểu tượng dê hóa giải tình trạng trên.

Con dê chủ về sự ôn hòa nên khi bài trí dê tại bàn làm việc sẽ giúp chủ nhân luôn giữ được sự điềm đạm, tĩnh tâm, tốt cho các mối quan hệ giao tiếp.

Bài trí dê phong thủy cũng có thể tăng thêm ý chí và sự kiên nhẫn của chủ nhân. Nó cũng có tác dụng bồi đắp lòng kiên trì và ý chí phấn đấu của bạn.
Phương vị thích hợp để bài trí biểu tượng dê là Nam hoặc Tây Nam. Tránh bài trí dê ở hướng Bắc hoặc Đông Bắc.

Theo thuyết về 12 con giáp, vì Sửu (trâu) và Mùi (dê) chính xung, những người tuổi Sửu không nên sử dụng biểu tượng dê.

 

 

******************

Đôi nét về Dê:

Dê là một trong những con vật được loài người thuần dưỡng từ rất sớm, cách đây khoảng hai vạn năm. Các nước ở Trung Đông và Ấn Độ nuôi dê từ rất sớm, sau đó mới tới Ai Cập, các nước Phương Tây, Châu và Châu Phi.

Thời thượng cổ, con người đã biết săn bắt thú rừng để ăn thịt. Dê là một con vật hiền lành nên thường là đối tượng săn bắt chính. Trong nhiều lần khai quật khảo cổ, các nhà nghiên cứu đã nhìn thấy hình ảnh con dê xuất hiện trên rất nhiều dụng cụ săn bắt, trên rìu đồng, cán dao…. Trên các vách đá hay các hang động, người ta cũng hay bắt gặp những nét vẽ thô sơ, nghuệch ngoạc nhưng sống động, ghi lại cảnh một đoàn người đang săn đuổi thú rừng, trong đó có cả hình ảnh của những con dê.

Hiện nay người ta cho rằng có ba nhóm dê có nguồn gốc  từ ba loài dê rừng: nhóm dê châu Âu, châu Á và dê châu Phi. So với dê rừng, dê nuôi có sừng nhỏ và yếu hơn, đôi khi thiếu hẳn, tai dài hay ngắn hơn tuỳ giống. Riêng màu sắc và phẩm chất lông thay đổi nhiều nhất, rõ nhất là dê giống Angôra và Casơmia có lông dài mịn như lông cừu.

Bằng kinh nghiệm tích luỹ được, con người thuần dưỡng dê và nó trở thành một nhân vật nuôi trong nhà. Vì dê là một con vật có ích, có liên quan đến sự sinh tồn  của con người nên họ dần dần sùng bái chúng. Cùng với việc lấy mặt trời làm chuẩn cho một ngày lao động, người ta đã dùng 12 con vật, gồm những con vật hiền lành và những con vật uy nghi, mà người ta không thể hiểu nổi, để tính thời gian. Dê là một trong 12 con vật ấy.

Từ xưa người ta hay dùng dê để tế lễ. Trong thần thoại Hy lạp, khi tế thần Dớt người ta phải dâng dê, bò thui đốt, tế thần Hecmet cũng phải có mật ong, bánh ngọt, lợn và dê con.

Ở Trung Quốc thời xưa, vua chúa thường dùng dê trong lễ cốc sóc, đó là lễ vào ngày mùng một đầu năm trước ngọ môn để làm lịch năm mới cho cả nước. Sách luận ngữ viết về cuộc tranh luận giữa Tử Cống và Khổng Tử như sau:

Người nước Lỗ khi xưa phải mổ thịt dê đực làm lễ cốc sóc. Về sau lễ ấy được bỏ đi nhưng người ta vẫn theo lệ mà nộp dê. Tử Cống muốn bỏ hẳn lệ ấy đi, nhưng Khổng Tử bảo: ” Ngươi tiếc con dê còn ta thì tiếc cái lễ”. Ý muốn nói, triều vua bây giờ đã suy, bỏ mất lễ cốc sóc nhưng vẫn giữ tục nộp dê thì người ta vẫn nhớ đến lễ ấy và lễ cốc sóc không mất hẳn. Câu chuyện này chứng tỏ dê có một vai trò quan trọng như thế nào trong văn hoá Trung Quốc.

Bởi dê quan trọng nên nó được xuất hiện nhiều trong văn học và các điển cố văn học. Đó là điển tích ” Tin nhạn” ( chỉ thư tín) gắn với chuyện Tô Vũ đi chăn dê. Sau này chính hình ảnh của Tô Vũ được vẽ ở gác Kỳ Lân nhằm nêu cao công tạng và gương trung nghĩa cho đời.

Trong điển cố văn học còn có từ ” dương xa” ( xe dê chỉ việc đưa đón ái ân).

Trong thần thoại Hy Lạp, thần Pan với cặp chân lông lá, râu ria xồm xoàm, khi thở hơi hôi có lẽ cũng là hình ảnh tinh chiên ( mùi cá tanh, mùi dê hôi).

Trong văn học cổ Trung Quốc, khi nói về những người dân làm nghề du mục ở phía Bắc, và Nguyễn Đình Chiểu trong ” Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” cũng gọi thực dân Pháp là ” tinh chiên” để tỏ ý khinh bỉ: ” Mùi tinh chiên vấy đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”.

Có lẽ hình tượng của dê, ông chủ có bộ dâu dài, lại gắn với hình ảnh hôi hám, bẩn thỉu  sao đó mà những kẻ rậm râu, sâu mắt hay được gọi là ” dê cụ”. Kể ra sự so sánh ví von đó cũng chưa thật đúng, vì dê vốn là con vật hiền lành, dễ hoảng và rất nhát, nên thật oan uổng nếu gắn cho nó những thói hư tật xấu của xã hội loài người.